Sunday, September 24, 2017

VÕ TỘC CỬU QUANG

Theo lời anh họ Võ Quang Khương hiện sống ở Bảo Lộc - Lâm Đồng, Chúa Nguyễn khi vào Nam đã đặt ra một tiền lệ: Một làng thành lập mới phải có ít nhất ba họ. Làng Ngọc Anh của tôi có các họ: Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu và họ Võ. Ngoài ra, trong làng còn có họ Ngô, Nguyễn Xuân, Nguyễn Đình…đến cư ngụ sau. Các họ được phân ngôi thứ: nhất, nhì, ba, tư. Mỗi họ, khi làm lễ ở đình làng đều phải theo thứ tự này.

Mỗi họ được chia ra nhiều phái. Phái còn được chia nhỏ thành nhiều chi. Những người sống ở cùng thời với nhau gọi là một đời. Ví dụ, tôi thuộc phái ba, chi nhì, đời thứ mười bảy.

Cùng phái, bác họ tôi giữ một chức quan nhỏ triều Nguyễn. Ông ở nhà thờ phái, vì vậy, những ngày lễ lớn, đặc biệt mỗi năm đến ngày chạp, chúng tôi phải có mặt cùng vác cuốc lên núi để giẫy cỏ, thắp hương mộ tổ tiên rồi về nhà ông ăn cỗ.

Con cái của gia đình bác họ tôi đều học hành thành đạt và giàu có.  Anh Võ Quang Hồ là một vị tướng thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hồi còn trẻ, nghe nói anh làm việc cùng với các lãnh đạo miền Bắc. Ở miền Nam, anh Võ Quang Hàm cũng là một quan chức thời Bảo Đại rồi trở thành một đại gia trong ngành khai thác gỗ thời kỳ Việt Nam Cộng hòa. Những người còn lại đều giàu có và thành đạt.

Thời kỳ chiến tranh, nhà cửa ruộng vườn của bác đều giao cho cha tôi canh tác để lo việc hương hỏa. Vì thế, sau 30/4/1975, một hôm tôi được yêu cầu mở cửa cho anh Hồ thắp hương bàn thờ phái.

Vừa gặp tôi, anh hỏi: “Con chú Yên phải không?” Tôi gật đầu. Thật lạ, cha tôi mất năm 1971, còn anh theo kháng chiến trước 1945 lúc đang học ở Hà Nội, vậy mà vẫn nhận ra.
Đó là lần gặp đầu tiên. Phải đến năm 1994, tôi mới gặp lại anh. Lúc đó, anh đã nghỉ hưu và sống gần sân bay Tân Sơn Nhất.

Tôi đến chào anh và báo tin tôi sẽ sang Mỹ du học. Thật ngạc nhiên, lúc tiễn tôi ra cổng, vẻ mặt trầm tư, anh nói: “Chú được đi học, tôi mừng cho sự nghiệp của chú, nhưng chú hãy nhớ lời tôi người Mỹ và Trung Quốc không bao giờ là bạn của dân mình.”

Mỗi người có một cách nhìn về thế giới khác nhau. Tôi là người học và làm việc trong môi trường thương mại quốc tế. Tôi luôn tin rằng giao thương giúp người ta hiểu và có trách nhiệm vun đắp quan hệ, gìn giữ hòa bình.

Tết Đinh Dậu vừa rồi, tôi có dịp về thăm nhà thờ họ Võ làng Ngọc Anh. Bất giác nhìn lên trước cửa, tôi thấy một bức hoành phi mạ vàng trên đó khắc bốn chữ Việt: “Võ Tộc Cửu Quang”, có ghi người tặng là anh Võ Quang Hồ. Được biết anh vừa tạ thế tháng 3 năm 2016.

Tôi thầm nghĩ, cuộc đời vị tướng này đã trãi qua ba cuộc chiến tranh tàn khốc : Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Anh là một người yêu nước, yêu tiếng Việt nên bốn chữ anh để lại cho hậu thế được viết bằng chữ quốc ngữ, khác với nhiều đình chùa ở nước ta vẫn treo những câu đối, hoành phi bằng chữ Hán, mặc dầu chẳng còn mấy ai hiểu trên đó viết gì.

Nghĩ đến đây, tôi tìm thấy giữa anh và tôi có một điểm chung, đó là lòng yêu nước.

Friday, September 22, 2017

Thời của Hoàng Anh

Nhà tôi trồng bốn gốc hoa Hoàng Anh. Thấm thoát đã 15 năm rồi, vậy mà hoa vẫn nở vàng tươi mỗi ngày. Hôm qua, có dịp uống cà phê với người bạn láng giềng, tình cờ tôi phát hiện hai gốc ở bên hông nhà đã già cỗi và một gốc đã khô. Tôi ngạc nhiên vì đây là hai gốc xanh tươi nhất ngày nào. Những nụ hoa vàng, cánh mỏng nở rộ đẹp đến nỗi tôi thường mượn nhà hàng xóm đối diện để ngắm hoa nhà mình. Thế mà sau một thời gian khoe sắc giờ đây chúng trở nên già cỗi.

Trái lại, hai gốc phía trước nhà một thời èo uột bây giờ lại nở hoa mỗi ngày. Tuy không nhiều, nhưng những nụ hoa vàng đong đưa trước gió mỗi sáng mai thức dậy, nhìn ra cửa khiến tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
Tôi chợt nhớ cây bàng trước nhà đã bị công ty Điện Lực đốn ngã. Thì ra, cây bàng luôn phủ bóng xanh tươi và những chiếc lá màu vàng, đỏ lúc già đi đã luôn cuốn hút khiến tôi quên mất gốc Hoàng Anh bên dưới.
Tôi chợt hiểu khi bóng râm của cây bàng không còn nữa là thời của gốc Hoàng Anh đón nhận ánh sáng mặt trời để đơm hoa kết nụ.
Tôi bỗng nhớ lại thời sinh viên và những năm đi dạy ở đại học Văn Lang, tôi đã kể cho sinh viên khoa Thương mại câu chuyện của một bạn học, anh Nguyễn Tất Trọng ở Đắc Lắc. Sau khi tốt nghiệp Trọng được phân công về Đắc Lắc, nơi mà không ai muốn nhận. Thế nhưng, anh đã thăng tiến rất nhanh, trở thành một cán bộ lãnh đạo Cục quản lý Đo lường Chất lượng của khu vực miền Trung & Tây Nguyên.
Hồi còn học ở đại học, anh luôn ngủ gục ở trong lớp. Về sau có dịp tâm sự, anh cho biết hàng đêm anh phải thức cùng mẹ và em gái làm bao bì để kịp đưa ra chợ vào sáng mai.
Tôi kể với sinh viên câu chuyện này để nhắc nhở họ đối xử với nhau tốt hơn. Những gì xãy ra hôm nay ở lớp học hay trong đời sống mỗi ngày chưa nói lên điều gì. Thành công của mỗi người cần phải có cơ hội phát huy, cũng như chuyện bốn gốc hoa Hoàng Anh ở nhà tôi vậy.

Tuesday, September 19, 2017

Vinh danh những “Ông Mối ngoại” của Hòa Bình

Chặng đường 30 năm chinh phục đỉnh cao của Hòa Bình có những lúc thăng trầm. Trải qua những giai đoạn như thế, luôn hiện diện những “Ông Mối ngoại”. Họ là những người ngoại quốc đã và đang công tác ở những công ty nước ngoài có mặt ở Việt Nam một thời gian và có cơ hội tiếp xúc với lãnh đạo Hòa Bình.

Họ là những lãnh đạo công ty, giám đốc dự án, kỹ sư…, nhưng đôi khi họ chỉ là một chuyên viên thương mại đến từ Pháp, Đức, Úc…phổ biến là người châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore.

Khác với đa số người Việt thường coi khinh những “Ông Mối” và gán mác “Dân chạy mánh”, anh Lê Viết Hải, Tổng Giám đốc Hòa Bình luôn coi trọng những người này và đối xử nghĩa tình.

Lúc tôi mới gia nhập Hòa Bình, buổi họp Ban Điều hành đầu tiên, chúng tôi đã gặp một trường hợp gay cấn phải biểu quyết tại phòng họp: Ông Lee, Giám đốc công ty VK Housing Hàn Quốc muốn vay 100.000 đô la Mỹ để trả lương và tiền thuê văn phòng lúc cận Tết. Lúc đó, Hòa Bình cũng gặp khó khăn vì đang ở thời kỳ khủng hoảng thị trường địa ốc.

Trái với quyết định của hầu hết thành viên cuộc họp, anh Lê Viết Hải đã quyết định cho mượn. Anh nói: “Ông Lee đã từng chi khoảng 160.000 đô la Mỹ để cùng Hòa Bình dự thầu công trình xây hầm để xe ở thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ họ đang khó khăn, chúng ta phải giúp đỡ.”

Công tác ở Hòa Bình, tôi đã nhiều lần chứng kiến anh Lê Viết Hải ra nhiều quyết định táo bạo trong hoàn cảnh khó khăn và đầy áp lực mà những người làm kinh doanh thông thường có thể cho là ngớ ngẫn.

Không chỉ có những trái đắng, “Ông Mối ngoại” đã mang lại cho Hòa Bình nhiều quả ngọt vì họ thấu hiểu tấm lòng của anh Hải: Ông Park giúp Hòa Bình làm sơn đá; ông Jung giúp Hòa Bình nắm vững kỹ thuật làm kết cấu cốp pha nhôm ở công trình Kumho Asiana; ông Daniel Lim giúp Hòa Bình ký hợp đồng ngoại đầu tiên ở Myanmar…

Ba mươi năm nhìn lại, Hòa Bình ngày nay đã trở thành một thương hiệu quốc gia trong ngành xây dựng. Năm 2016, với doanh số trên 10.000 tỷ đồng, Hòa Bình đã gia nhập câu lạc bộ Những Nhà thầu lớn của thế giới.

Trả lời cho câu hỏi của nhiều người: “Vì sao?” Xin dẫn câu thư pháp của thiền sư Thích Nhất Hạnh: “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm.”

Viết đến đây, tôi lại nhớ câu chuyện của anh Trần Sĩ Chương, thành viên Hội đồng quản trị Hòa Bình. Anh nói: “Sự thần kỳ châu Á (thành công của Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore…) đã làm ngạc nhiên những chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới và họ đã tự hỏi, phải chăng nhờ vào những giá trị văn hóa.”

Nếu quả đúng như vậy, tôi tin rằng những giá trị văn hóa kinh doanh anh Lê Viết Hải, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc và là người sáng lập Hòa Bình đã và đang đặt nền móng sẽ tiếp sức cho Hòa Bình trên đường chinh phục những đỉnh cao mới.


Sunday, September 17, 2017

Cây trứng cá ở công trường bệnh viện Tâm Trí, Nha Trang

Người ta thường nói, khi bạn sống lâu ở một nơi nào đó, bạn sẽ có cảm tình với nơi ấy. Vì thế, những người lập nghiệp ở nơi mới thường nói: “Xin chọn nơi này làm quê hương thứ hai.”

Nha Trang với tôi cũng như thế. Nơi đây tôi đã về công tác sau khi tốt nghiệp đại học, rồi lập gia đình, có con và đặc biệt đã để lại một đứa con trong lòng đất ở nghĩa trang Đồng Bò. Vì vậy, dù sau này chuyển vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi luôn ao ước được làm một việc gì đó cho Nha Trang để đền ơn vùng đất đã nuôi nấng gia đình mình thưở hàn vi.

Cơ hội đã đến lúc tôi cùng kỹ sư, giám đốc dự án Nguyễn Trung Kiên tham gia đàm phán với các chuyên viên dự án của Tập đoàn bệnh viện Tâm Trí để ký hợp đồng xây hai bệnh viện ở Đồng Tháp, và Nha Trang.

Thông thường, là một công ty xây dựng, Hòa Bình cũng như các nhà thầu khác, luôn đòi hỏi chủ đầu tư chứng minh có đầy đủ vốn và chứng từ pháp lý theo quy định. Tuy nhiên, phía Tập đoàn bệnh viện Tâm Trí cho biết họ chỉ có đủ vốn 60%. Phần còn lại 40% họ muốn Hòa Bình vay ngân hàng với điều kiện họ sẽ cung cấp bảo lãnh và phí lãi vay. Điều kiện này chưa từng có tiền lệ ở Hòa Bình. Tuy vậy, với kinh nghiệm làm việc ở ngân hàng trước đây, tôi đã thuyết phục Tổng Giám đốc đồng ý tiến hành ký hợp đồng thi công.

Ngày động thổ công trường, tôi gặp kỹ sư Nguyễn Đức Toại chỉ huy trưởng. Biết Toại là người ở Khánh Hòa, tôi rất mừng vì cảm nhận chúng tôi đã một thời sống ở vùng đất này, như vậy ắt Toại cũng có tình cảm với quê hương.

Trực giác này của tôi đã đúng. Rất nhiều cuộc họp Ban Điều hành, Cố vấn Lê Viết Hưng thường than thở một cách tế nhị: “Mấy công trình của Hòa Bình ở miền Trung chưa hiệu quả, trừ công trình của anh Toại.”

Tôi hiểu để có được lời khen này của anh Hưng, Ban chỉ huy công trường của Toại đã cật lực tiết kiệm trong điều kiện thi công ở đô thị. Chẳng hạn, anh nhường văn phòng của Ban chỉ huy cho một đối tác ở thành phố Hồ Chí Minh ra quản lý công trình. Khi nào họp với các bên anh mới vào văn phòng chung đặt ở trong một container, tiếp khách hay giải quyết công việc anh thường ngồi dước gốc cây trứng cá ở ngay cổng ra vào. Nhiều lần ghé thăm công trường chúng tôi đều ngồi dưới tàn lá dày đặc của cây trứng cá. Thỉnh thoảng, cả khách và chủ đứng dậy hái những quả chín mọng hồng thắm, bỏ vào miệng nhai một cách ngon lành.

Tôi còn phát hiện Ban chỉ huy đã khôn khéo để cho chủ đầu tư quảng bá Hòa Bình, thông qua hình ảnh marketing công trường trên những vách dựng hàng rào.

Không chỉ đối mặt với những đòi hỏi khắc khe từ phía chủ đầu tư, Ban chỉ huy công trường còn phải thỏa mãn yêu cầu về chất lượng từ phía lãnh đạo công ty. Một lần tôi cùng anh Trương Quang Nhật ghé thăm công trình, lúc đang vào giai đoạn hoàn thiện. Nhìn một bộ cửa nhôm mẫu mới lắp, anh Nhật đề nghị phải thay vì khung nhôm có bề dày mỏng. Như thế sẽ tăng chi phí cho công trường, nhưng đổi lại sẽ giữ được uy tín cho công ty khi công trình đi vào hoạt động.

Tôi chợt hiểu, làm nghề thi công xây dựng thật khó. Không chỉ: “Mồ hôi đổ xuống, công trình vươn cao.” Để tồn tại và phát triển như quy mô của công ty hiện nay, Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ kỹ thuật, quản lý phải có lòng yêu nghề sâu đậm mới vượt qua muôn vàn trở lực trong hoạt động hàng ngày.

Riêng đối với kỹ sư Nguyễn Đức Toại, ngoài lòng yêu nghề anh còn thể hiện trách nhiệm với công ty & một người con của quê hương Khánh Hòa. Vì thế, anh cùng anh em Ban chỉ huy công trường đã hy sinh những tiện ích để công trình không bị lỗ ở một thị trường xây dựng mà các anh là người khai phá.

Có lẽ kỹ sư Toại đã đồng cảm với lời nhắn nhủ của tôi lúc lần đầu gặp nhau. Sau này chúng ta sẽ già đi, một mai ghé thăm Nha Trang, chúng ta sẽ tự hào chỉ cho người thân, bạn bè và nói: “Công trình này là do Hòa Bình xây dựng đấy!”.

Nhỡ một mùa hoa Dã Qùy

Tháng 11 năm 2015, tôi theo đoàn kiến trúc sư người Pháp gốc Việt lên Đà Lạt với một đề nghị làm ăn khá hấp dẫn, nhưng không kém phần lãng mạn. Đó là khôi phục tuyến đường sắt để làm du lịch. Dĩ nhiên, hiện đang có loại hình du lịch này từ ga Đà Lạt lên trại Mát và ngược lại. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dịch vụ cần bổ sung để làm hài lòng du khách và giữ chân họ lưu lại lâu hơn ở thành phố.

Lúc rời thành phố ra ngoại ô cũng như trên đường ra sân bay Liên Khương tôi để ý hai bên đường mọc đầy một loài hoa dại có màu vàng sẫm. Thoạt nhìn khá giống hoa Hoàng Anh mọc quanh hàng rào nhà tôi. Tuy nhiên, màu hoa đậm đà, mộc mạc mà nếu so sánh hai loài hoa với hai người con gái thì loài hoa dại như một người thiếu nữ hiền hòa, giản dị làm xao xuyến khách lãng du và những chàng trai đã từng lên rừng xuống biển, giang hồ lãng tử hay những ai có tâm hồn thi sĩ.

Không biết tên hoa là gì, nhưng tôi nuôi hy vọng sẽ trở lại Đà Lạt đúng vào mùa này để ngắm hoa và hỏi bạn tôi, một người hay làm thơ về tên hoa luôn thể.

Nhân dịp chuẩn bị sang định cư ở Hoa Kỳ, vợ chồng bạn tôi là anh Trần Xuân Mỹ giới thiệu tôi với bác sĩ Lê Hùng. Xem qua bệnh án, bác sĩ nói: “Thôi anh cứ đi chơi ở đâu được thì đi.” Nghe lời bác sĩ, và được bà xã động viên, chúng tôi thăm Huế, Đà Nẵng, Nha Trang.
Tại Nha Trang, chúng tôi gặp vợ chồng bạn Trương Văn Nhân, người mà tôi dự định gặp ở Đà Lạt trong một chuyến du lịch tương lai. Nghe Nhân nói rằng sân bay Liên Khương đã có trợ giúp xe nâng cho người đi lại khó khăn, tôi bán tín bán nghi, đành thử liều một chuyến trở lại Đà Lạt.

Để chuyến đi có thể mỹ mãn, tôi đã gọi điện kiểm tra thời tiết vì phải đợi mùa mưa ở cao nguyên chấm dứt mới an tâm. Lúc máy bay hạ cánh ở sân bay Liên Khương, tôi đưa mắt nhìn ra hai bên đường băng, nhưng không thấy màu hoa năm cũ. Chỉ có một điều mừng là sân bay đã trang bị xe nâng rất mới.

Trên đường về thành phố Đà Lạt, tôi tiếp tục nhìn ra hai bên đường. Lúc đó, trời đổ mưa, ở giữa đường cao tốc Liên Khương - Đà Lạt tôi lại thấy hoa Hoàng Anh nở rộ thay cho màu hoa tôi mong gặp lại. Thì ra, mùa mưa năm nay kéo dài hơn cho nên hoa dại bên đường vẫn còn ngủ yên lúc tôi trở lại.

Thấm thoát đã gần một năm trôi qua. Hôm qua ngồi trên taxi nhìn ra đường, tôi thấy một cô gái mặc chiếc áo có màu vàng giống màu hoa dại ở Đà Lạt năm trước. Tiếc rằng tôi không thể nhớ nỗi tên hoa là gì. Đó là biểu hiện của tuổi già vì chỉ mới một năm tôi đã quên. Gọi điện hỏi Nhân, anh nói: “Đó là hoa Quỳ, nhiều người hay gọi là hoa Dã Quỳ”. Nhân còn nói đùa: “ Nhiều ông đi với bồ nhí lên thăm Đà Lạt thường mang hoa này về tặng các cô vợ già vì “Giả Quỳ” là “Quỷ Gìa”.

Bất ngờ Cam Ranh

Phía Bắc bán đảo Cam Ranh là một dải cát trắng, nơi tôi là một trong những người đầu tiên khai phá khi hòa bình lập lại từ sau năm 1975.

Hồi đó, chúng tôi lập luận chứng kinh tế kỹ thuật để xin Hội đồng Bộ trưởng cấp phép cho tỉnh Khánh Hòa xuất khẩu cát trắng. Lúc đất nước còn bị cấm vận, một chuyến tàu cát trắng xuất qua Đài Loan, Hàn Quốc chỉ mang về vài trăm ngàn đô la Mỹ nhưng quý hóa vô cùng. Cũng nhờ việc này, chúng tôi có dịp tiếp cận thương lái nước ngoài và được lãnh đạo chính quyền địa phương ưu ái. Tôi được tháp tùng Phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Văn Trung sang Đài Loan dự hội nghị kêu gọi đầu tư và làm việc với đối tác để lập nhà máy tuyển rửa cát ở Cam Ranh.

Rời Khánh Hòa năm 1994, đến năm 2007, tôi lại có dịp đáp máy bay xuống sân bay Cam Ranh để đón Đại sứ Mỹ Michael Marine rồi đi cùng ông thăm tỉnh Khánh Hòa. Tôi còn nhớ sau khi tham quan khu du lịch Bãi Dài, trở về văn phòng ủy ban Tỉnh, vừa ngồi xuống Đại sứ đã nói ngay: “Tôi sắp về hưu, muốn mua một lô đất ở Bãi Dài để làm nhà nghỉ được không?” Lãnh đạo tỉnh ghi nhận yêu cầu, nhưng trả lời phải xin ý kiến ngoài Trung ương.

Tháng 12 năm 2013, tôi lại về Cam Ranh để làm lễ động thổ khu biệt thự Riviera Beach Resort do Hòa Bình thi công. Lúc đó, nguyên một dải đất từ sân bay đến chân núi Cù Hin, gần như đây là công trình đột phá chỉ sau Mia Resort.

Tuần trước tôi trở lại Cam Ranh, ở ngay căn biệt thự sát biển của Riviera Beach Resort do đồng nghiệp chúng tôi xây dựng cách đây hơn ba năm. Hết sức ngạc nhiên, một vùng cát trắng như hoang mạc giờ đây được phủ xanh với những hàng dừa và cây cảnh. Đêm mưa văng vẳng tiếng ểnh ương. Sáng thức dậy bởi tiếng chim hót. Tôi ngồi ở trong phòng nhìn ra biển đón ánh bình minh buổi sớm mai, nắng như dát vàng lên ngọn cỏ.

Theo lời một nhân viên, Riviera Beach Resort có khách quanh năm với tỉ lệ bình quân công suất phòng khá cao nhờ Công ty mẹ đã có kinh nghiệm tổ chức tour du lịch quốc tế nhiều năm. Hôm tôi đến ở, mặc dù vào thời điểm giữa tuần nhưng Resort đón khách rất đông, đa số đến từ Nga và Trung Quốc.

Tôi mừng cho Cam Ranh, mừng cho chủ đầu tư Riviera Beach Resort. Cảm ơn những người doanh nhân như anh Nguyễn Đức Chi, anh Đặng Hiếu … đã dám mạo hiểm biến vùng đất bỏ hoang trở thành dáng dấp một đô thị nghỉ dưỡng trung tâm ngang tầm quốc tế.
Hơn thế nữa, sân bay Cam Ranh đang được mở rộng xứng tầm để đón khách du lịch quốc tế đến từ các châu lục.

Tôi mong một lần trở lại cùng với đồng nghiệp của Tập đoàn Hòa Bình đóng góp sức mình để xây dựng Cam Ranh thêm giàu đẹp.

Chuyện Mạnh Tử

Hồi nhỏ, tôi được nghe chuyện Mạnh Tử lúc thiếu thời: Mẹ của ông rất nghèo, nhưng muốn ông học hành để trờ thành một người tốt nên đã chuyển nhà sống gần trường học. Về sau, Mạnh Tử trở thành một đại học giả lưu danh muôn thuở ở Trung Hoa.

Lúc còn là một sinh viên, một hôm đang ngủ say, tôi nghe tiếng chị Thu gọi nhỏ, tay chị đụng vào người. Chị nói: ”Ba ơi! Có một người ngỏ ý muốn thương tau!”

Trời đã gần sáng, tôi nghĩ, có lẽ chị Thu đã trằn trọc suốt đêm, khi gần sáng mới dựng tôi dậy để vừa tâm sự vừa hỏi ý kiến. Chị cho biết, người ngỏ ý với chị là con trai của một bạn hàng mua trái cây ở các vườn nhà rồi bán lại cho chị. Tôi hỏi: ”Anh ấy ở đâu?” chị cho biết, nhà anh ở sau trường tiểu học Thế Dạ.

Lúc ấy, tôi liên tưởng đến câu chuyện Mạnh Tử liền im lặng không phản đối. Tôi còn nhớ lại chuyện hôn nhân của chị Vàng với anh Hoàng do bác họ tôi mai mối.

Bác họ tôi là một vị quan nhỏ của triều Nguyễn. Nghe nói, ông là bạn của cụ Phan Bội Châu. Hai người thường gặp nhau bàn về thời sự và hay dùng dịch lý Trạng Trình để nói về tương lai. Theo lời cha tôi, bác đã gieo quẻ để xem cho người con nuôi là anh Hoàng và đã thuyết phục cha tôi gả chị Vàng cho anh ấy.

Bác nói: “Không ai giàu ba họ. Không ai khó ba đời.”và giảng giải rằng không nên nhìn vào gia thế hiện tại để quyết định chuyện hôn nhân của con cái. Nghe lời, cha tôi đã “ép” chị Vàng lấy chồng. Ngay hôm đám cưới, chị ấy vẫn còn khóc tức tưởi.

Tiếp nối chuyện Mạnh Tử, vợ chồng chị Thu ngày nay vẫn sống sau trường Thế Dạ, vẫn tiếp tục mua bán trái cây, nhưng tất cả bốn đứa con đều học hành đàng hoàng. Tháng Sáu năm nay, đứa con út vừa tốt nghiệp đại học và có việc làm ngay.

Bạn có tin vào dịch lý không? Gia đình chị Vàng hiện nay rất vững vàng như lời phỏng đoán của bác họ tôi ngày trước. Mặc dầu anh chị vẫn bán khoai sắn và nuôi heo mỗi ngày nhưng con cái đều thành đạt, có đứa là bác sĩ, kỹ sư, thậm chí là tiến sĩ.

Đất lành chim đậu

Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quy hoạch phát triển đô thị, nhưng đã không kiên định trong việc thực hiện. Khắp nơi ở nội đô các chung cư vẫn mọc lên như nấm. Các lô đất có diện tích lớn như trại lính của Việt Nam Cộng Hòa, kho hàng, chợ… ở các quận đã dần dần bị lấp đầy bởi các chung cư, trung tâm thương mại, văn phòng. Hậu quả là các con đường ở thành phố luôn bị nạn kẹt xe mặc dầu đã mở rộng hai bên hoặc làm cầu vượt ở những giao lộ đông đúc.

Mặt khác của việc quy hoạch cho thấy tính chủ quan trong việc phát triển. Chẳng hạn, những tòa cao ốc được xây bằng vốn của thành phố ở quận 2 lại không có người đến ở.

Tổ tiên ta đã có câu: “An cư lạc nghiệp”. Tuy vậy, trong quy hoạch cần vận dụng câu: “Đất lành chim đậu”. Rõ ràng, nhiều khu quy hoạch được xây bằng vốn nhà nước vẫn bỏ hoang nhan nhãn khắp nơi vì đã không được xây ở những nơi phù hợp với cuộc sống của người dân.

Việt Nam vẫn là quốc gia đi lên từ nông nghiệp. Tính cộng đồng, văn hóa làng xã, gia đình vẫn còn là nền tảng. Rất mong những nhà quy hoạch và chính quyền dựa vào yếu tố này để phát triển đô thị phù hợp với văn hóa và trình độ dân trí.

Đây cũng là đáp án cho việc giãn dân ở nội đô và vấn nạn giao thông đô thị của thành phố.

Saturday, May 13, 2017

“FAKEBOOK”

Trong hai tháng 4 và 5, tôi mất đi ba người bạn. Các bạn ấy ra đi đột ngột đến nỗi khi vợ tôi, Trúc báo tin cho anh Độ, cựu sinh viên khoa Sinh K1, bằng cách chỉ cho anh trang Facebook của Đại học Tổng Hợp Huế, anh gạt ngang nói đó là “Fakebook”, nghĩa là “Tin đểu”.
Anh Độ liền bốc máy điện thoại di động gọi vào máy hai bạn lớp Lý K1 là Trung và Hải. Cả hai máy đã bị đóng. Anh gọi cho hai bạn khác là Thanh và Cư, bạn cùng lớp với Trung và Hải, rồi mới chịu tin.
Tôi cũng bị sốc khi vợ tôi mở Facebook và báo tin buồn. Cách đây vài tháng, Trung uống cà phê với các bạn đã gọi cho tôi và hứa sẽ đưa các bạn nữ cựu sinh viên của các khoa Văn, Sử, Ngoại ngữ đến thăm tôi. Còn Hải đã đi cùng Cư và Hà tới thăm. Anh còn đùa giỡn tiếu lâm, giọng anh sang sảng. Khi cả ba đã về, cháu tôi nói, “Nhìn ba anh ấy to khỏe ghê”.
Thế mà Trung và Hải đã ra đi quá dễ dàng!
Chiều nay, lúc mở laptop, một tin nhắn từ Google bật lên chào tôi. Một đồng nghiệp cũ đang công tác ở Myanmar báo tin, bạn tôi là ông Tin Maung Win, người cùng tuổi, đã qua đời tháng trước. Hèn gì, mỗi lúc mở máy, tên Ông vẫn hiện ra, nhưng không thấy Ông online.
Cả ba người này đều rất dễ mến và đã ra đi rất thanh thản. Họ như những ngôi sao đã tắt, nhưng ánh sáng của những ngôi sao này vẫn đang tỏa sáng như bầu trời đầy sao mỗi đêm tối trời.
Tạm biệt những người bạn thân thương của tôi.

Lỗi tại mình

Cách đây vài năm, nhà tôi bỗng xuất hiện nhiều chuột. Ở bếp ga, chuột nhắt chui vào nằm sâu bên dưới bếp lò. Không may cho chúng, điện giật chết khiến mùi hôi bốc ra trong vùng bếp, vợ tôi tìm hoài vẫn không thấy. Ở phòng ngủ, chuột nhắt chui vào máy điều hòa, chúng cắn đứt dây điện làm máy bị hỏng. Ở ngoài sân, trước đây lúc mới làm nhà, kiến trúc sư để lại một dải đất để trồng cỏ. Chuột cống đào xới làm hang để sống. Chúng đông đến nỗi hàng đêm đuổi nhau kêu chít chít làm tôi mất ngủ. Vì thế, chúng tôi đã mở chiến dịch tìm và diệt.
Trận đánh đầu tiên là đối phó với lũ chuột ở trong bếp. Chúng tôi đặt bẫy, keo dính chuột và đã có kết quả bước đầu, bắt đươc một vài con. Chúng tôi phải mở tung bếp ga mới tìm thấy xác chuột chết khô và nhờ đó phát hiện được đường xâm nhập của địch thủ. Thì ra, những người thợ xây bếp đã lắp một ống thông hơi cho bếp. Ống này dẫn từ bếp lò xuyên qua tường thải khí ra bên ngoài. Lũ chuột đói ăn tìm thấy đường dẫn, chúng đã thâm nhập và đã gây ra những bực mình cho gia đình tôi. Ở phòng ngủ, chúng tôi phải kêu thợ điện lạnh đến sửa và làm tạm một vòng thép bao quanh thân máy điều hòa để chặn đứng đường vào của chuột. Thế nhưng, ống dẫn nước thải đẩy ra từ máy điều hòa vẫn bị nghẹt. Bí quá, thợ sửa máy phải nối tạm một ống dẫn nước thoát ra ngoài.
Cách đây hơn một năm, nhà tôi tiến hành sửa chữa, chúng tôi thay toàn bộ bếp và máy điều hòa mới. Nạn chuột nhắt cũng từ đó chấm dứt.
Ở phía ngoài sân, chúng tôi bỏ trồng cỏ và láng xi măng toàn bộ khoảnh đất trống, chỉ chừa lại hai ô trống vì có hai gốc hoa hoàng anh đang xanh tốt. Lũ chuột cống thiếu nơi cư ngụ, chúng bỏ đi gần hết. Tuy vậy vẫn còn một gia đình chuột cố nán lại bằng cách đào hang mới ngay ở gốc hoa hoàng anh gần cổng.
Giờ đây, mỗi ngày tôi một mình ngồi nhìn ra cửa, đôi vợ chồng chuột vẫn thản nhiên chạy qua lại. Thỉnh thoảng, chúng ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt tròn xoe, sáng long lanh.
Rồi tôi chợt hiểu, lũ chuột không hề có lỗi. Thế nhưng, tôi đã đổ hết tội cho chúng và xem chúng là kẻ đã gây ra phiền toái, thậm chí tốn kém cho gia đình tôi.
Rõ ràng là lỗi tại mình mà tôi không nhận ra, lại đổ cho kẻ khác. Nếu như không có những đường ống đặt sẵn ở bếp và máy điều hòa thì những chú chuột nhắt đã không vào nhà. Tương tự, nếu không có khoảnh đất trống ngoài sân, lũ chuột cống đã không lấy làm nơi cư ngụ.
Từ đây, tôi nhớ lại từng kỷ niệm đau buồn trong đời và đã nhận ra tất cả những hậu quả đã gánh chịu là lỗi tại mình, do chính mình gây ra.
Tết năm Ất Mùi, một người bạn, anh Nhất Thống đến thăm đã tặng tôi cuốn lịch treo tường thư pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tờ lịch tháng 12, Thiền sư viết, “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm”. Đã hai năm rồi, tôi vẫn giữ nó để mỗi ngày nhắc tôi phải suy nghĩ, nhận thấy, tưởng tượng ra kết quả, trước khi nói, viết hay hành động một sự việc gì. 

Kỷ niệm với hai người “bạn” Mỹ

Cuốn tự truyện đã xong, nhưng tôi vẫn còn áy náy vì chưa nhắc đến kỷ niệm với hai người “bạn” Mỹ, có lần đã tiếp xúc trong quá trình làm việc ở Tổng Lãnh sự Quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là Thượng nghị sĩ John McCain và bà Luella Davis, Giám đốc các Trung tâm Tư liệu khu vực Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Mỹ.
Người Việt chúng ta ai cũng biết Thượng nghị sĩ John McCain là tù nhân chiến tranh Việt Nam và hiện đang là Thượng nghị sĩ ở Quốc hội Mỹ. Ông có một cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Thời kỳ tôi còn làm việc ở Tổng Lãnh sự Quán, đã có nhiều lần Ông đến thăm Việt Nam. Tuy nhiên, duy nhất một lần tôi được nói chuyện trực tiếp với Ông.
Hôm đó, sau khi thăm Tây Nguyên về, phóng viên hãng Thông tấn AP hẹn lịch phỏng vấn Ông ở văn phòng Tổng Lãnh sự. Lúc đó, ông Tổng Lãnh sự Seth Winnick đang đi nghỉ ở nước ngoài. Sếp của tôi cũng đi vắng. Chúng tôi mượn phòng làm việc của Ông Tổng Lãnh sự để cho Thượng nghị sĩ ngồi tạm trong thời gian phỏng vấn. Một cán bộ ngoại giao Mỹ và tôi ngồi ngoài cửa để canh chừng giữ im lặng và theo dõi cuộc phỏng vấn.
Tôi có một người bạn cùng làm việc từ năm 1982 ở Xí nghiệp Khảo sát Thiết kế Giao thông Phú Khánh là anh Phan Ngọc Toàn. Toàn hay đến gặp tôi để tâm sự về chương trình định cư qua Mỹ theo luật McCain sửa đổi. Toàn là con trai của một Chủ tịch hội đồng tỉnh Bình Định trước năm 1975. Sau khi học tập 9 năm, cha Toàn và gia đình được di dân qua Mỹ. Toàn lấy vợ ở thành phố Hồ Chí Minh. Do Toàn không có tên trong hộ khẩu nên bị kẹt lại. Nhờ Thượng nghị sĩ McCain xin Quốc hội Mỹ sửa đổi luật McCain nên những người kẹt lại như trường hợp của Toàn tiếp tục được theo cha mẹ vào Mỹ.
Lúc Thượng nghị sĩ McCain phỏng vấn xong, Ông bước ra cửa. Tôi đứng dậy buột miệng nói, “Thưa Ông nghị sĩ, tôi đã chăm chú nghe Ông nói về những đóng góp cho quan hệ hai nước Việt – Mỹ. Tôi rất cảm ơn Ông. Tuy nhiên, tôi nghĩ là Ông còn nói thiếu một điều quan trọng.”
Nghe tôi nói xong, Thượng nghị sĩ tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi nói ngay, “Ông chưa nói về luật McCain sửa đổi. Nhờ nỗ lực của Ông mà rất nhiều bạn trẻ người Việt Nam được đoàn tụ gia đình. Thay mặt họ, tôi xin cảm ơn Ông”. Thương nghị sĩ rất vui, Ông nói, “Đúng rồi! Tôi quên.”
Sau lần gặp này, trở lại văn phòng tôi bị một đồng nghiệp Mỹ phê bình vì đã dám nói chuyện trực tiếp với Thượng nghị sĩ. Tuy vậy, tôi chống chế, “Tôi xin lỗi vì không hiểu quy tắc ngoại giao. Nhưng cô vẫn thấy đấy, Ông nghị sĩ rất vui khi nghe tôi nói chuyện.”
Cũng cần nói thêm một chút về Toàn. Toàn đã ở lại Việt Nam vì hồ sơ bảo lãnh của cha mẹ Toàn chưa xong thì cả hai đều mất.
Người Mỹ thứ hai để lại cho gia đình tôi ấn tượng đẹp, đó là bà Luella Davis.
Mỗi năm một lần, bà Luella Davis đến Trung tâm của chúng tôi để vừa kiểm tra công việc vừa huấn luyện chuyên môn. Những lần như thế, chúng tôi thường tạo điều kiện cho Bà tiếp xúc với cơ quan Việt Nam ở các trường đại học và thư viện tỉnh. Bà Luella Davis là người Mỹ gốc Phi. Tôi tìm thấy ở Bà sự khiêm tốn và chân tình nên đã cố gắng tìm cách đưa Bà đi xa tận Huế, Đà Nẵng và cả Đà Lạt. Sau mỗi lần tập huấn, tôi thường bố trí cho Bà đi thăm thư viện và thưởng thức những món ăn địa phương.
Một lần đi thăm Huế, tôi đưa Bà đi ăn ở quán Không Gian Xưa. Bà rất ngạc nhiên vì phát hiện thức ăn ở Huế có vị cay giống ở Thái Lan. Tuy nhiên, Bà khen món mực một nắng ở Việt Nam ngon hơn nhiều nơi Bà đã đến.
Một lần khác, Bà thăm và làm việc ở Đại học Đà Lạt. Lúc tôi đưa Bà đến thư viện tỉnh Lâm Đồng, Bà rất cảm động vì phát hiện những quyển sách cũ trước năm 1975 vẫn được bảo quản tốt và dấu USIS màu đỏ vẫn còn y nguyên. Sau đó, cán bộ thư viện, anh Thắng đưa Bà đi ăn trưa. Tôi chọn món gà nướng ống tre ăn với xôi. Bà rất thích.
Rời Đà Lạt bằng máy bay. Lúc chia tay ở sân bay Tân Sơn Nhất, Bà kéo tôi lại nói, ”Tôi hiểu rồi!”. Tôi ngạc nhiên trố mắt nhìn Bà. Không để tôi hỏi, Bà nói, “Tôi đã hiểu vì sao nước Việt Nam của anh lại bị nhiều lần chiến tranh xâm lược đến thế! Vì đất nước anh đẹp tuyệt vời!”.
Nhiều năm sau, tuy không còn làm việc với nhau, Bà vẫn sẵn lòng đón vợ tôi và đưa đi tham quan ở San Jose lúc Trúc sang Mỹ thăm con gái Mỹ Ngọc đang học ở đại học Houston, Texas. Thỉnh thoảng, giờ đây chúng tôi vẫn còn liên lạc với nhau qua Facebook. 

Thursday, April 27, 2017

Ly cà phê của anh Hưng


Làm việc ở Hòa Bình, tôi rất ấn tượng về Cố vấn Ban Tổng Giám đốc Lê Viết Hưng, người đã gắn bó với Hòa Bình từ khi thành lập công ty. Anh đã để lại rất nhiếu bài học về đối nhân xử thế đối với CBCNV, từ những thành viên kỳ cựu đến nhân viên mới gia nhập vào Hòa Bình, nhất là câu chuyện ly cà phê của Anh.
Trong 30 năm phụ trách công tác quản trị và điều động nguồn nhân lực, mỗi khi có vấn đề nhân sự, Anh thường chia sẻ với họ qua ly cà phê do Anh mời.
Bên ly cà phê đậm đà buổi sáng, hay buổi trưa nồng, Anh đã tìm được nhiều lời giải để chia sẻ với nhân viên về những gút mắc của họ trong công việc, những khó khăn mà họ gặp phải, hay những đề xuất mà họ chưa dám đưa ra. Anh cũng đã lắng nghe những tâm tư của anh em CBCNV, thấu hiểu cuộc sống, công việc của họ để có những lời động viên phù hợp. Không ít lần, những cuộc nói chuyện thân mật và đơn giản với nhân viên giúp Anh hóa giải nhiều vấn đề phát sinh.
Cũng từ ly cà phê chia sẻ này, mà trong suốt ba thập kỷ làm công tác nhân sự, Anh chưa bao giờ ký quyết định buộc thôi việc một nhân viên nào. Từ sự chia sẻ thân tình, đối tượng sẽ hiểu và tự làm đơn xin thôi việc bởi nhận ra sự không phù hợp của mình trong guồng máy hoạt động của công ty.
Đó là một trong những nền tảng đạo đức văn hóa mà Hòa Bình xây dựng để CBCNV luôn ghi nhớ trong hành xử của mình, dựa trên cái Tâm của sự chân thành, cái Tâm trong công việc. Anh nói, “Các hình thức khiển trách về hành chính là cần thiết mạnh mẽ hơn, nhưng không thể thu phục nhân tâm của mỗi người bằng chính cách hành xử văn hóa, đạo đức của mình.” Và mỗi lần nghe lại những cuộc nói chuyện của Anh với các nhân viên trong công ty, tự tôi đã thầm cảm phục.
Theo tôi, nếu con người có thể xác và linh hồn, doanh nghiệp cũng mang trên mình hai yếu tố đó. Từ những trải nghiệm đã qua ở ngân hàng ACB, đến làm việc ở Tập đoàn Hòa Bình, tôi càng thấy cảm nhận này là thật. Và quả không ngoa nếu tôi gọi anh Lê Viết Hưng là linh hồn của Hòa Bình. Hầu như mọi suy nghĩ, hành động của Anh đều dồn hết cho Công ty. Nhất là những khi doanh nghiệp gặp khó khăn vì vấn đề chi phí hoạt động tăng cao hay gặp sự cố về an toàn lao động. Những lúc như thế, Anh gần như không ngủ vì những tin nhắn của Anh đến Ban Điều hành đều phát đi vào những giờ mọi người đang say giấc.
Và một câu chuyện khác, về cái Tâm trong sáng của anh Lê Viết Hưng, lúc Anh vì lý do sức khỏe, không thể tiếp tục giữ cương vị quan trọng ở Hòa Bình, Anh đã tặng cho anh Lê Viết Hải 500.000 cổ phiếu. Tuy nhiên, anh Lê Viết Hải đã cảm ơn và muốn đưa số cổ phiếu này làm chi phí tặng thưởng cho anh chị em CBCNV Hòa Bình có thâm niên gắn bó và làm việc có hiệu quả. Điều làm tôi thật sự xúc động, là những anh chị em có liên quan đều xin phép không nhận phần thưởng này, mà muốn đưa số cổ phiếu làm chi phí hoạt động công ty hay Quỹ hỗ trợ Giáo dục Lê Mộng Đào. Anh Lê Viết Hưng sau khi biết câu chuyện đã rất cảm động bởi tính cách chân tình của anh chị em CBCNV vì sự phát triển chung của công ty, không nhận những giá trị mà không tự mình làm ra.
Tập đoàn Hòa Bình mỗi năm mỗi lớn mạnh. Bộ phận quản lý nguồn nhân lực đối mặt với những thách thức rất lớn, khi mà tổng số CBCNV và công nhân thầu phụ tăng lên trên 20.000 người trải rộng khắp cả nước.
Việc quản lý nguồn nhân lực giờ đây đòi hỏi phải sử dụng giải pháp công nghệ thông tin và những kỹ năng hiện đại khi doanh nghiệp tiến hóa sang giai đoạn quản trị chuyên nghiệp. Tuy vậy, theo tôi, nền tảng văn hóa doanh nghiệp lấy con người làm trung tâm của sự phát triển mà anh Hưng đã ươm mầm vẫn mãi mãi tồn tại ở Hòa Bình.

Friday, December 23, 2016

CHUYỆN CHÚ THẰN LẰN


Hồi nhỏ, sống ở nông thôn, quê tôi không có điện. Mọi sinh hoạt về đêm đều nhờ ánh đèn dầu hỏa. Bữa cơm tối, cả gia đình quây quần quanh ngọn đèn bát (đèn thủy tinh cao). Việc đèn sách của anh em tôi phải sử dụng đèn hột vịt (đèn thủy tinh thấp, bóng đèn to bằng quả hột vịt).

Mùa đông, dù cây đèn hột vịt chỉ đủ ánh sáng cho một đến hai người học, nhưng sức nóng của nó tỏa ra cũng hấp dẫn lũ thằn lằn, nhất là những đêm có nhiều muỗi. Vì thế, chúng tôi thường giải lao bằng cách ngắm sinh hoạt của những chú thằn lằn.

Hằng đêm, Mẹ tôi thường hát, “Thạch sùng còn thiếu mẻ kho, huống chi em bậu lại cho mình giàu”. Mẹ kể, thằn lằn là hóa thân của ông Thạch Sùng. Thạch Sùng rất giàu có, đến đâu cũng khoe khoang về sự giàu có của gia đình mình. Ông có hàng ngàn mẫu ruộng, đàn gia súc hàng ngàn con, kẻ hầu người hạ lên đến hàng trăm, gấm vóc lụa là, lúa gạo đầy kho. Hể ai có cái gì mới, Thạch Sùng đều tìm mua mang về cất ở nhà.

Một vị quan ở trong vùng nghe tiếng về sự khoe khoang của Thạch Sùng bèn bày mưu kế làm cho Ông ta một phen bẽ mặt. Thật ra, ý của vị quan này chỉ muốn nhắn nhủ, giàu có cũng quan trọng, nhưng cuộc sống còn nhiều thứ cũng quan trọng không kém đó là sự hiểu biết.

Vị quan cho người đến gặp Thạch Sùng thách đấu, nếu mọi của cải ở trong nhà đều có, Thạch Sùng sẽ thắng và có thêm hàng trăm mẫu đất. Ngược lại, nếu có một loại của cải Thạch Sùng bị thiếu, toàn bộ hàng ở trong kho thuộc về người thách đấu.

Thạch Sùng đồng ý tổ chức cuộc thi. Sau mấy ngày kiểm kê, quả thật, cái gì Ông ta cũng đều có. Tuy nhiên, đến khi bên thách đấu đòi hỏi miếng mảnh sành thì không tìm thấy. Mất hết tài sản, Thạch Sùng tự vẫn. Ông hóa thành thằn lằn. Hằng đêm, tiếc của, tặc lưỡi tạo nên âm thanh đặc trưng của loài thằn lằn.

Gần đây, cuốn phim Công viên kỷ Jura cho thấy, thằn lằn đã tồn tại và tiến hóa trên trái đất hơn ba trăm triệu năm. Như vậy, từ những con khủng long khổng lồ, ngày nay những chú thằn lằn hiền lành vô tư sống chung với loài người. Chúng còn có ích vì ăn côn trùng chủ yếu là muỗi. Nghe nói, thằn lằn còn chữa được bệnh suyễn. Hồi nhỏ, chính mắt tôi chứng kiến mẹ tôi bắt thằn lằn con cho anh tôi nuốt sống bằng cách thả vào miệng để trị bệnh suyễn.

Thằn lằn có mặt ở khắp mọi nhà, hồi nhỏ chúng là bạn của tôi hằng đêm. Sau này, có dịp lưu lại nhiều nơi, ở đâu tôi cũng gặp những chú thằn lằn thảnh thơi dưới ánh đèn nê ông. Ngay ở nhà tôi, nhiều lúc chú thằn lằn bò lên chân tôi để bắt muỗi.

Con người ta tìm thấy hạnh phúc khi được ở dưới một mái nhà. Vì thế, hầu như mọi người đều giành hết thời gian của cuộc đời để tạo dựng cho mình một mái nhà. Có người giỏi giang sở hữu hàng chục căn nhà, như Bác tôi ở Đà Lạt. Thế nhưng, khi lìa bỏ thế gian, Bác chẳng mang theo bất cứ thứ gì. Trong khi đó, những căn nhà của Bác bây giờ thuộc về sở hữu của những người khác.

Bạn tôi ơi! Cho dù căn nhà yêu mến của bạn sau này thuộc về ai, những chú thằn lằn vẫn vô tư sống ở trong nhà như những người chủ.

Ngẩm nghĩ, tôi thấy câu chuyện của mẹ tôi có vẻ thật, Thạch Sùng tuy đã hóa kiếp thành thằn lằn nhưng Ông vẫn rất giàu.


Monday, November 21, 2016

CHUYỆN LÁNG GIỀNG

Láng giềng nhà bên trái của tôi sửa nhà. Nhà hẹp, nhưng dài nên chủ nhà đã ngăn một phần đuôi vỏn vẹn 15 mét vuông làm phòng cho thuê. Nhà sửa vừa xong đã có người đến thuê ở. Người thuê là một đôi vợ chồng trẻ. Do phòng sát mặt đường, đôi vợ chồng vừa ở vừa mở quán trà sữa.

Vốn là người hay quan tâm đến môi trường sống quanh mình, tôi mừng thầm vì láng giềng càng đông càng vui. Người ta nói, nếu bạn ở một nơi láng giềng làm ăn phát đạt thì bạn cũng sẽ được nhờ.

Quán trà sữa mở được một vài tuần, một cặp vợ chồng khác lại hỏi nhờ nhà tôi để bán gỏi cuốn ở sát bên. Tất nhiên là gia đình tôi không có kiến gì, bởi đây cũng là cách giúp người khác có kế sinh nhai. Vả lại, họ chỉ đặt một tủ nhỏ bên vỉa hè ngoài đường.

Tưởng mọi chuyện êm xuôi, mấy ngày sau, hai bên chủ quán bắt đầu lời qua tiếng lại. Sự cố diễn ra bắt đầu từ khi tiệm bán gỏi cuốn bán kèm thêm đồ uống và trái cây cắt sẵn. Có lẽ chủ quán trà sữa cảm thấy tức tối vì sợ mất đi cơ hội bán đồ giải khát mỗi khi có người đến ăn gỏi cuốn.

Mâu thuẫn lên đến cực điểm. Hai bên choảng nhau, đập vỡ tủ kính. Mảnh gương vỡ văng trúng đầu chồng của chị bán gỏi cuốn. Máu đổ, chính quyền phải can thiệp. Vin vào cớ gây mất trật tự công cộng và làm cản trở giao thông, chính quyền ra lệnh dẹp bỏ tủ bán hàng của cả hai quàn và không đồng ý để chủ hộ cho họ thuê nhà tiếp tục nữa.

Câu chuyện bán hàng này xãy ra khá phổ biến ở trên các đường phố ở Việt Nam. Tranh chấp thường ngày do người bán hàng thường hành xử theo bản năng từ lòng tham và sự đố kị vì sợ người khác hơn mình. Tuy nhiên, nếu chịu quan sát một tí việc bán hàng ăn uống ở các trung tâm mua sắm, bạn sẽ thấy sự khác biệt.

Người Mỹ có câu nói, “Ở đâu có Coca Cola ở đó có Pepsi” hay câu, “Ở đâu có Mac Donald ở đó có Burger King ….” Nghĩa là khi tham gia kinh doanh người bán hàng phải tìm cách thõa mãn  nhu cầu khác nhau người tiêu dùng bằng cách cung cấp cho họ nhiều lựa chọn. Người Hàn Quốc và Philippine cũng đã học theo cách bán hàng này và đã thành công đưa vào thương trường ở nhiều nước trong đó có Việt Nam: chuổi bán hàng nhanh Lotteria, Jolibee. Họ cạnh tranh với nhau rất gay gắt nhưng sòng phẳng và thực khách là người hưởng lợi.

Thật ra, chúng ta có thể học hỏi và hành xử với láng giềng khi kinh doanh bằng cách đọc và hiểu câu nói của tiền nhân, “Buôn có bạn, bán có phường”. Hà Nội có 36 Phố phường. Chúa Nguyễn khi lập kinh đô ở Huế cũng đã thành lập các làng nghề như phường Đúc (chuyên đúc đồ đồng), phường Bao Vinh (chuyên về thương mại), làng gốm, làng làm đồ trang sức vàng bạc, …Ở TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn cũng đã hình thành từng con đường bán hàng chuyên biệt như đồ điện máy, hóa chất, hàng giả da, hàng nội thất…

Không chỉ có cạnh tranh, hồi nghỉ dưỡng ở Đà Lạt, tôi thấy cô bán hàng sữa đậu nành và trà đã bỏ cửa hàng của mình sang bên dì hàng cơm phụ giúp việc rửa chén và lau bàn. Khi tôi hỏi, sao cô không bán hàng của mình, cô ấy trả lời rất tự nhiên, tụi em giúp nhau khi đông khách là chuyên thường ngày, nếu khách ăn cơm xong gọi nước uống thì lúc đó em sẽ bán.

Chuyện bán hàng bị đổ vỡ của hai vợ chồng thuê nhà láng giềng thật đáng tiếc. Nếu họ biết hợp tác hoặc cạnh tranh một cách tinh tế như những câu chuyện ở trên thì sẽ tốt đẹp biết bao.


Saturday, October 15, 2016

Vườn mít nhà tôi

Trang Facebook của bạn tôi đăng một câu chuyện về quả mít như thế này, “Thứ bảy tuần trước Thu Nga có nhận được một trái mít mà không biết ai đã tặng. Lòng thật vuiA nhưng cũng thật áy náy vì sợ người ta tặng nhầm nên không dám cắt ra ăn. Mùi hương thơm ngào ngạt không kiềm chế được nên sáng hôm sau đem ra xử. Mít múi thật to, giòn tan và ngọt lịm. Bóc múi ra cái thì để ngăn mát ăn tươi, cái thì để đông đá ăn dần, cái thì làm kem chuối dừa mít, còn xơ thì phơi héo để kho với cá bống thệ.
Hiện tại thì mít cũng hết, kem cũng không còn nhưng lòng vẫn áy náy không biết ai là người cho mít để cảm ơn một tiếng. Thôi thì nhờ bác Facebook cho Thu Nga đăng mấy dòng để cảm ơn ai đó đã có lòng thơm thảo (hi vọng là còn nhận được lần sau!?). Một lần nữa gia đình Nam Nga xin cảm ơn người đã cho mít nhé!”

Hiện tại thì mít cũng hết, kem cũng không còn nhưng lòng vẫn áy náy không biết ai là người cho mít để cảm ơn một tiếng. Thôi thì nhờ bác Facebook cho Thu Nga đăng mấy dòng để cảm ơn ai đó đã có lòng thơm thảo (hi vọng là còn nhận được lần sau!?). Một lần nữa gia đình Nam Nga xin cảm ơn người đã cho mít nhé!”

Mấy ngày sau, TN đã chia sẽ mẫu chuyện này vào trang Facebook của tôi vì đã tìm ra người biếu quả mít.

Hồi tháng 6, chúng tôi có dịp hội ngộ ở Huế nhân ngày giỗ của cha tôi. Nhìn cây mít trước nhà sai quả, chúng tôi bàn với nhau những món ăn dân dã từ quả mít. Mít non trộn tôm thịt xúc bánh tráng, canh mít non nấu với lá lốt, xơ mít phơi héo kho cá bống thệ, …

Câu chuyện các món ăn từ quả mít bỗng dưng đã làm không khí cuộc gặp mặt trở nên đầm ấm. Tôi quay sang chú Tư hỏi, “Em có thể tặng mỗi người một quả mít non khi ra về được không?” Tư bảo, những quả mít này đã hơi già, làm các món ăn từ mít non không còn phù hợp, hẹn dịp khác vậy.

Nhân nói về quả mít, ở trong vườn nhà, tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, chúng tôi đã lớn lên với nhiều câu chuyện về nó.

Ngõ vào nhà tôi khá dài, hai bên đường, Cha tôi đã trồng cây mít với nhiều giống khác nhau. Chúng không chỉ có hai loại mít, mít ướt và mít ráo. Mít ướt khi chín, múi mít trở nên mềm, khi ăn phải dùng đũa để gắp hoặc phải dùng tay bàn tay để bóc ăn. Mít ráo, khi chín khô ráo, có thể ăn từng múi, từng sợi xơ cái, hoặc ăn luôn cả lớp đệm sát vỏ (gọi là đợn), xơ mít có thể phơi héo để kho với cá. Không chỉ có hai loại mít kể trên, chúng tôi còn đặt tên cho từng cây mít tùy theo đặc điểm của quả mít khi chín. Chẳng hạn, cây mít đầu tiên từ ngõ vào phía bên phải được đặt tên là mít đài. Quả mít không lớn, tròn, da căng mịn khi già, giống như đáy của cái om đất dùng để rang muối hay kho cá. Cây mít tiếp theo trồng ở bên phải gọi là mít dừa vì múi mít khi chín dòn như cơm dừa. Do đặc điểm của múi mít khi chín ăn rất ngon, mặc dầu ra quả ít, nó đã không bị đốn hạ khi Cha tôi mở rộng ngõ cho xe máy cày vào ra. Hậu quả là nó đứng trơ trọi khi toàn bộ ngõ vào nhà được mở rộng.

Cây mít trẻ nhất trong hàng quân danh dự là cây mít nghệ. Mặc dầu không sai quả như mẹ của nó ở vườn nhà ngoại, nhưng vì màu múi mít khi chín có màu vàng nghệ rất đẹp nên nó vẫn được giữ lại trong vườn. Nghe Mẹ tôi kể lại, hồi mới quen nhau, Cha tôi đã xin giống đem về ươm trồng.

Gần sát sân nhà, còn hai cây mít khác được đặt tên và đối xử với rất khác biệt. Cây mít ướt được yêu quý vì ra quả rất lớn. Quả ra không nhiều nhưng to và dài cỡ bằng thùng dầu hôi 20 lít. Vì thế, cha tôi đã dùng dây và nạng để chống đỡ. Mặc dù mít ướt, khi chín, chúng tôi có thể ăn luôn cả xơ. Mỗi lần mít chín, Mẹ tôi thường mang ra chợ bán vì được giá. Tuy vậy, chúng tôi vẫn có dịp thưởng thức món ngon vì cha tôi yêu cầu cắt ra một khoanh để vừa ăn vừa chọn ra những hột mít đầy đặn làm giống. Mẹ tôi cũng rất vui vì người mua có thể bị hấp dẫn khi nhìn thấy được bên trong của quả mít.

Còn một cây mít nữa, chúng tôi cho là ‘có ma’ vì không những thân nó mọc thẳng vươn cao nhất ở trong vườn mà còn có những đặc điểm khác lạ so với những cây mít khác. Năm nào, đến mùa xuân, nó cũng đều nở hoa, ra quả, nhưng sau đó đều rụng hết. Thấy nó vô tích sự, ai cũng khuyên Cha tôi đốn bỏ, nhưng ông nói, để sau này lấy gỗ làm cột nhà thay cho cột nhà rường làm nơi thờ tự tổ tiên.

Nói về những món ăn từ quả mít, còn hai món nữa gắn liền với tuổi thơ của chúng tôi, đó là hột mít và mít dái.

Do vườn nhà nhiều mít, bạn bè trong lớp từ tiểu học cho đến đại học của tôi đều không bao giờ quên món hột mít do Mẹ tôi đãi. Cho đến lần hội ngộ này, chúng tôi đứa nào cũng xấp xỉ 60 tuổi. Vậy mà khi họp lại đều nhắc kỷ niệm nhổ trộm sắn nấu chung với hột mít mỗi lần tụ tập ở nhà tôi.

Món mít dái có tên hơi tục tỉu vì hoa mít không được thụ phấn để thành trái trông giống hòn dái. Mít dái phải ăn với muối ớt vì có vị chát. Món này tôi thường phải theo mấy bà chị ra vườn để ăn vì phải qua chế biến.

Mùa hè năm 1971, Cha tôi bị tai nạn mất. Tất cả cây trái trong vườn đều được cột một dải vải trắng gọi là để tang. Tôi nhớ lại, chỉ có một vài cây trong vườn bị chết. Vườn mít vẫn xanh tươi. Nhưng một buổi sáng, chị tôi la lên thất thanh, “Ba ơi ra mà xem!” Tôi thức dậy nhìn ra vườn, cây mít vươn cao nhất vườn lá đổi màu vàng rụng đầy quanh gốc. Hồi đó, chị em tôi cho rằng cây mít muốn chết theo Cha tôi. Về sau này, khi tìm hiểu, tôi mới nhận ra, vườn mít đã bị dính thuốc khai quang của Mỹ rãi ở trên rừng Trường Sơn. Bây giờ, nhớ lại hồi còn nhỏ, chúng tôi đã ăn những cây trái trong vườn như mít dái,ổi, khế…một cách trực tiếp mà không biết trên vỏ của nó đôi khi còn đọng lại chất độc màu da cam.

Nghĩ đến đây, tôi bỗng rùng mình.

Monday, October 03, 2016

CÂY BÀNG NHÀ TÔI

Tôi chuyển về sống ở TP. HCM giữa năm 1997. Sau khi tìm được việc làm, mỗi cuối tuần tôi đều chạy xe máy kiếm nhà để mua nhằm đưa vợ con từ Nha Trang vào chung sống. Do số tiền dành dụm không lớn, địa điểm tìm kiếm căn nhà có thể mua cứ xa dần khu trung tâm. Cuối cùng, tôi mua được một căn nhà cấp 4 của một thương binh bán lại qua tay một môi giới ở Tân Sơn Nhì. Căn nhà vỏn vẹn 36 mét vuông, nhưng bên cạnh còn một khoảng đất trống sát đường hẽm. Nghĩ rằng khu đất nhỏ nhưng nằm ngay ngã ba, có 2 mặt tiền nên sẽ thông thoáng, và với sự tư vấn về giá cả của một trùm địa ốc ở cơ quan, việc mua bán được quyết định chỉ sau 1 lần đàm phán.

Tôi dọn về ở trong căn nhà mới mua từ đầu năm 1998. Phát hiện đầu tiên của tôi là căn nhà rất thấp, phần hông của nó quay về hướng Tây nên rất nóng. Hơn nữa, nền của nó thấp hơn mặt đường nên rất ẩm thấp. Vì vậy, tôi quyết định trồng cây để lấy bóng mát. 

Ngày chủ nhật nọ, tôi đi bộ ra đầu hẽm, ghé tiệm bán hoa, cây cảnh để tìm mua loại cây mình cần. Chủ tiệm là một người trạc tuổi trung niên, dáng người có vẻ thầy giáo hơn so với lớp thương nhân từng trải. Với sự tư vấn của chủ hiệu, chúng tôi đã trồng một loại dây leo lá lớn, hoa màu tím không rõ tên. Chẳng bao lâu, dây leo phủ kín căn nhà đến nỗi ở ngoài nhìn vào chỉ thấy một màu xanh của lá. Chúng tôi ở dưới tàn lá đó 5 năm cho đến khi có đủ điều kiện để xây nhà mới.

Nhà xây xong, quay mặt về hướng Tây Bắc nên đầy ánh nắng vào buổi chiều. Tôi lại chạy ra tiệm bán cây cảnh của anh Tuấn để mua cây cảnh trang trí cho có màu xanh. Chợt thấy cây bàng nhỏ đang khô héo bên cạnh tường của tiệm, tôi hỏi mua, nhưng vợ chủ tiệm lại biếu không cho tôi mang về.

Tôi trồng cây bàng sát tường rào phía ngoài đường với hy vọng khi cây lớn lên sẽ che bóng mát cho cả mặt tiền căn nhà. Quả vậy, cây bàng lớn nhanh như thổi, thấm thoát nó đã trở thành chiếc dù che mát nhà tôi. Tôi còn nhớ một người bạn thân từ Nha Trang ghé thăm vẫn nhắc đến bóng mát của cây bàng sau lần hai đứa ngồi nhâm nhi vào một buổi chiều cách đây nhiều năm.

Môt ngày nọ, bỗng dưng Công ty Điện Lực chôn một trụ điện trung thế sát bên cây bàng. Không ngờ đó là tai họa cho cây bàng. Về sau này, mỗi năm cứ đến mùa mưa, công ty lại đến tỉa cành, cắt ngọn. Kì diệu thay, cây bàng nghiêng thân mình dần ra phía đường để né tránh dây điện. Không mọc thẳng được, tàn lá của nó vươn theo chiều ngang, che kín một khoảng đường trước nhà. Những ngày nắng gắt, tán bàng trở thành nơi nghỉ mát của những người bán hàng rong, thu mua phế liệu.

Thấy không gian mát mẽ, thoáng đãng một gia đình ở sâu trong hẽm xin nhờ làm chỗ đặt xe bánh mì vào mỗi sáng. Từ dạo ấy, rạng sáng nào tôi cũng nghe tiếng chổi quét lá quanh nhà. Tôi thầm nghĩ, quanh nhà mình luôn sạch sẽ là nhờ công quét lá của Chị bán bánh mì và cũng là do cây bàng.

Cách đây 2 năm, tôi bị bệnh nên chăm tập thể dục ở nhà mỗi sáng. Đứng trong cửa sổ nhìn ra tàn lá xanh tươi của cây bàng, tôi đã học được nhiều điều từ nó.

Những chiếc lá bàng màu xanh non mơn mỡn vươn lên đón ánh mặt trời, trong khi những chiếc lá đã già trĩu nặng, chúng tạo thành một lớp màu đậm hơn bên dưới. Mỗi ngày, những chiếc lá già nua liên tục đổi màu vàng và rụng xuống. Tôi liên tưởng đến đời người, khi chúng ta già đi thì phải lắng đọng, trải đường làm nền tảng, nhường bước cho lớp trẻ vươn lên.

Khác với cây bàng ở miền Bắc như trong truyện “Nhặt lá bàng” của Thạch Lam, cây bàng nhà tôi đơm hoa kết trái và thay lá quanh năm. Tôi nhận thấy, dù đứng yên một chỗ, cây bàng vẫn giải quyết được chuyện sinh tồn. Cứ một lần bị cưa, chặt cành, cây bàng xơ xác chỉ vài hôm. Sau đó, từng cành non mọc lên xanh tươi, hớn hở đón ánh mặt trời. Lá mọc đến đâu, hoa nở đến đó. Nhờ vậy, cây bàng quyến rũ nhiều lũ chim đến bắt sâu, hút mật. Từng trái bàng có màu xanh  âm thầm lớn lên trong tàn lá. Chúng liên tục chuyển sang màu vàng khi chín. Lũ chim bay đến tìm quả chín để ăn. Những cơn gió mạnh cũng làm lá bàng rơi xuống mặt đường. Người phu quét rác gom lá bàng mang về bãi rác, hay những trận mưa xối xả mang mầm sống của giống bàng tái sinh ở đâu đó. Tạo hóa quả tuyệt vời!

Sáng hôm qua, lúc tờ mờ sáng, tôi đã nghe tiếng cười nói trước nhà. Một nhóm công nhân điện lực với xe chuyên dụng được lệnh đốn hạ cây bàng. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, cây bàng đã biến mất. Một lần nữa cây bàng lại dạy cho tôi một bài học cuộc sống. Rõ ràng, cây bàng không hề biết nó bị đốn hạ một ngày nào đó, nhưng ngày hôm qua khi còn tồn tại trên cõi đời nó vẫn đâm chồi, nỡ hoa, sản sinh những trái bàng tươi ngon hấp dẫn lũ chim, những chiếc lá ngả vàng thản nhiên rơi rụng sau khi làm hết trách nhiệm của mình.

Tôi tự hứa, từ nay cho đến cuối đời, tôi sẽ sống theo cách của cây bàng nhà tôi ngày hôm qua.

Thursday, August 18, 2016

TẤM LÒNG CỦA HIẾU

Hồi mới quen Linh, một chủ doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu ở Quy Nhơn, anh đã nằng nặc mời tôi huấn luyện cho nhân viên văn phòng của anh một khóa kỹ năng quản trị văn phòng. Lý do vì Linh và tôi gặp nhau ở một điểm, năng suất công việc của nhân viên văn phòng các công ty trong nước rất thấp. Trái lại, ở các tổ chức nước ngoài, công việc nhiều hơn nhưng ít nhân viên. Dù công việc khá nặng cho nhân viên nhưng do thuê ít người, chủ doanh nghiệp có thể nâng thêm mức thu nhập cho người lao động. Linh và tôi đều nhận thấy có một mối tương quan giữa hiệu quả công việc cho doanh nghiệp và sự hài lòng của nhân viên.

Linh kể, tôi sang dự triển lãm đồ gỗ ở Las Vegas, Mỹ 7 ngày. Hầu như, tôi chỉ làm việc với một nhân viên của đối tác nhưng công việc trôi chảy và gặp gỡ rất nhiều khách hàng tiềm năng. Cô nhân viên này một mình làm tới năm, sáu công việc khác nhau liên quan đến hội chợ: sắp xếp chuyến bay, đưa đón ở sân bay, sắp xếp khách sạn, lô trưng bày hàng triển lãm, giải thích cho khách tham quan, làm hồ sơ kế toán, thanh quyết toán chi phí cho toàn bộ chương trình hội chợ. Linh nói thêm, ở công ty tôi, phải cần khoảng 5 nhân viên để làm việc này.

Ao ước là thế, nhưng đến nay, sau nhiều năm, tình hình quản trị văn phòng của Linh vẫn chưa có nhiều thay đổi.

Cách đây 4 năm, lúc ở Myanmar mở cửa, tôi gặp ông Daniel Lim, chủ một công ty tư vấn thiết kế Singapore mở văn phòng ở TP HCM. Ông Lim mời chúng tôi cùng đi sang nước này để tìm hiểu mở rộng hoạt động kinh doanh ở thị trường mới. Kết quả của việc hợp tác này đã mang lại cho chúng tôi một hợp đồng ngoại đầu tiên thực hiện ở nước ngoài. Vậy mà, rất khác với nhiều người làm kinh doanh, ông Lim chưa bao giờ tỏ ý đòi hỏi sự trả công, trái lại, còn đứng ra hòa giải mỗi khi hai bên có bất đồng khi triển khai công việc.

Một lần, tôi và sếp của mình sang văn phòng của ông Lim dự họp. Tôi tình cờ gặp lại hình ảnh, ký ức anh Linh đã kể cho tôi về quản trị văn phòng nhiều năm trước.

Văn phòng của ông Lim có khoảng 60 nhân viên, đa số là kiến trúc sư và kỹ sư nhưng chỉ có một quản lý văn phòng. Nhân viên nữ này vừa làm công tác tiếp tân, vừa đánh máy, quản lý hồ sơ, làm bảng lương và các công việc liên quan đến hành chánh khác.

Ngày hôm qua, ông Lim đi cùng một người bạn đến thăm tôi, sau gần hai năm chúng tôi không gặp nhau. Ông mang theo một giỏ trái cây làm quà. Khi mở giỏ quà, người nhà tôi khen, “Ông này người nước ngoài mà cũng biết chọn mua trái cây tươi ngon”. Tôi chợt nhận ra, người chuẩn bị quà cho ông Lim cũng chính là cô nhân viên hành chính ấy. Từ đây, tôi mới hiểu có kỹ năng làm một lúc nhiều việc là quan trọng, nhưng để nhân viên có tâm huyết, động lực làm tốt công việc còn quan trọng hơn nhiều.

Có lẽ, thành công của ông Lim hay thất bại của Linh là ở điểm này.  

Sunday, June 12, 2016

Bác tôi

Mùa đông năm 1982, tôi nghỉ phép, lên Đơn Dương thăm người Bác ruột suốt nhiều năm chưa gặp mặt.

Hồi chiến tranh, việc đi lại giữa địa phương này với nơi khác rất khó khăn. Không chỉ vấn đề kinh tế, an toàn trong lúc đi lại là quan ngại rất lớn vì sợ mìn bẫy dọc đường.

Bác tôi vào Lâm Đồng lập nghiệp, thỉnh thoảng về quê lo việc mồ mả. Khi tôi lớn lên cũng vào thời điểm chiến tranh Việt Nam đến hồi quyết liệt qua những biến cố như Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, rồi Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước… nên gia đình phân tán, chưa một lần có điều kiện đoàn tụ.

Hồi ở Huế, mỗi năm đi chạp mộ một lần, tôi thường để ý ghi chép ở trên bia mộ nào cũng có tên của Bác tôi là người phụng lập. Ngay cả ngôi nhà rường làm nơi thờ tự, theo lời cha tôi, cũng do công sức của Bác dựng nên.

Vì thế, khi vào công tác ở Nha Trang, ao ước của tôi là được một lần gặp Bác. Tôi tưởng tượng cảnh Bác tôi sống trong một căn nhà lớn kiểu Pháp, xung quanh một khu vườn rộng… Thế nhưng, khi ô tô dừng lại ở chợ Đơn Dương, người ta cho biết Bác tôi vào trong rừng cất nhà sống cách đó vài cây số.

Theo chuyến xe ngựa, tôi tìm đến xã Phú Thuận rồi men theo đường ray xe lửa thời Pháp bỏ hoang để tìm đến nhà Bác.

Ngôi nhà tranh thấp dựng ở ven đồi thông, phía dưới chân đồi có khe nước chảy, một mảnh ruộng trồng lúa và khoai môn chạy dọc theo dòng suối màu nước vàng đục do mang nặng đất phù sa. Phía sau đồi, dưới những gốc thông, là những luống dứa được trồng vừa lấy quả, vừa giữ đất khỏi bị xói mòn.

Sống vài ngày trong thung lũng hoang vắng, tôi giúp Bác làm vườn, mỗi chiều xách chiếc cần câu đi dọc bờ suối kiếm vài con cá trê làm thức ăn. Tuy vậy, Bác còn làm thịt thỏ, gà đãi tôi nên so với bữa ăn ở bếp tập thể tại Nha Trang, thật là sung sướng hơn nhiều.

Hàng ngày, khoảng 4 giờ chiều, thung lũng bị bao phủ bởi một màn sương mờ khiến bóng tối đến rất nhanh. Hầu như bữa cơm chiều nào cũng diễn ra dưới ánh đèn dầu rồi mọi người lên giường rất sớm. Khoảng 3 giờ sáng, tôi thấy Bác đốt đèn đọc Kinh Thánh cho đến tận sáng.

Sáng chủ nhật, Bác vác chiếc xe đạp lên vai ra tận quốc lộ để đạp xe về Đơn Dương. Tôi thức dậy nhìn ra thung lũng, màn sương vẫn còn dày đặc. Tôi ngạc nhiên vì không hề thấy Bác rủ tôi đi lễ nhà thờ. Sáng chủ nhật lần sau, tôi chủ động xin Bác đi theo. Bác đồng ý, nhưng tôi đành phải theo xe ngựa vì đường lên thị trấn rất dốc. Khi tôi vào nhà thờ, mọi người đã ngồi chật kín. Khác với nhà thờ Công giáo, nhà thờ Tin Lành thường nhỏ, chứa được vài chục giáo dân. Tôi thấy Bác đứng trên bục giảng, yêu cầu mọi người mở Kinh Thánh nghe Bác giải thích. Cuối buổi lễ, toàn bộ mọi người đồng thanh hát một bài thánh ca. Tôi vẫn còn nhớ như in đến tận ngày hôm nay bài hát, “Xin Chúa hãy kéo tôi lại gần”. Sở dĩ tôi có ấn tượng sâu sắc đến như vậy là do một nữ giáo dân, có lẽ là người gốc Quảng Ngãi, mỗi khi đến điệp khúc kéo tôi lại gần, giọng của chị the thé, khiến tôi không chịu được.

Mấy ngày sau, tôi cố gần gủi Bác để tìm hiểu nguyên nhân Bác trở thành mục sư bất dắc dĩ. Thì ra, từ khi Bác về Đơn Dương làm công việc thu tiền thuê nhà hàng tháng cho người anh em trong họ, Bác nhận làm giúp việc cho một mục sư người Mỹ và được ông này dẫn dắt trở thành một tín đồ Tin Lành. Sau ngày Giải phóng, xét thấy ngôi nhà mình đang ở không phải là chủ sở hữu, Bác đã tự mình giao nộp cho nhà nước rồi sau đó dựng nhà trong thung lũng để sống lại thời thơ ấu ở nông thôn ngoài Huế. Việc Bác trở thành người giảng giải ý nghĩa của những câu chuyện trong Thánh Kinh cũng bộc phát có thể vì tuổi tác và sự kính trọng mọi người dành cho Bác.

Một buổi sáng trước khi rời Đơn Dương tôi đã dậy sớm ngồi bên cạnh Bác. Bác gấp cuốn Kinh Thánh lại, chậm rãi nói với tôi, “Năm nay con lên đây còn gặp Bác, năm sau, nếu có lên thăm chưa chắc đã gặp Bác.”

Tôi về lại Nha Trang tiếp tục công việc, một buổi chiều mùa đông, tôi nhận một mẫu giấy điện tín, vỏn vẹn mấy chữ, “Bác mất rồi”. Lúc đó, đúng vào ngày lễ Giáng Sinh năm sau. Nhiều năm rồi, tôi vẫn luôn tự hỏi, làm sao Bác tôi lại có một dự cảm về ngày ra đi của mình như thế.

Friday, February 05, 2016

O Hến

Từ thuở ấu thơ đến khi tốt nghiệp phổ thông trung học, tôi chẳng bao giờ nghe cha mẹ nhắc đến tên O Hến.  Mùa Thu năm 1977, khi vào Đà Nẵng cùng Dũng - người em họ, chuẩn bị một chuyến hành trình thăm cô bác ở Đà Lạt-Lâm Đồng, tôi mới biết O Hến hiện đang sống ở Nha Trang. 

Hồi đó, muốn đến Lâm Đồng phải đi qua tuyến đường Phan Rang - Đà Lạt. Từ Đà Nẵng đi xe lửa đến Nha Trang cũng mất gần hai ngày và phải dừng ở trạm Nha Trang hoặc Phan Rang để mua vé ô tô đi tiếp Đà Lạt.  Tôi và Dũng đã đột ngột “đến thăm” nhà O Hến và chúng tôi chỉ cần khai báo mình là con cháu ở Huế - Đà Nẵng lên thăm cô bác ở Đà Lạt là chúng tôi có thể ngủ qua đêm ở nhà O Hến. 

Bốn năm sau, tốt nghiệp đại học, tôi đã một lần nữa đến nhà O Hến xin tá túc.  Lần này tôi ở lâu dài vì được phân công về công tác ở Sở Giao thông Vận tải tỉnh Phú Khánh. Lúc này Dượng Bảy, chồng O Hến đã qua đời, O Hến sống với một người con nuôi và vẫn ngày hai lần đi về chợ Xóm Mới bán trà Bảo Lộc và lá vối như xưa. 

Làm công tác khảo sát thiết kế giao thông, tôi theo đội đi khắp tỉnh.  Nhưng mỗi khi về Nha Trang làm hồ sơ, tôi đều trú ở nhà O Hến.  Tôi nhận ra O rất ngoan đạo. Tờ mờ sáng, lúc Nhà thờ Núi đổ chuông, O Hến thức dậy đi lễ.  Hằng tuần, trưa Chủ Nhật, O Hến đều nghỉ bán về nhà sớm để đi lễ chiều.  Lúc này O Hến đã già lắm, nên Lành - con gái nuôi O Hến- phải dìu O lên dốc nhà thờ Núi để làm lễ.  Lành cũng là một thành viên trong ca đoàn của nhà thờ nên đưa đón cũng thuận lợi. 

Nói về Lành, O Hến kể rằng, một buổi sáng mùa đông, lúc lễ xong về nhà, O Hến phát hiện một hài nhi quấn trong khăn tắm để dưới một bậc cấp nhà thờ.  O Hến nhặt đứa bé lên, đi ngược lại vào nhà thờ gặp Đức Cha để trình báo.  Nghe xong sự việc, Đức Cha nói ”Đây là quà của Chúa Giêsu ban cho con đấy.”  O Hến sửng sốt đứng lặng người một lát.  Đức Cha chợt hiểu O Hến còn phải xin ý kiến người chồng mặc dù hai vợ chồng đã lớn tuổi và không có con cái.  Đức Cha cho người gọi Dượng Bảy lên gặp Cha rồi làm phép cho Lành làm con nuôi kể từ ngày đó.

Nhà O Hến nằm dưới chân Núi Một, bên cạnh con hẽm cùng tên, nối Ngã Sáu với chợ Xóm Mới. Địa điểm này gần Ga đường sắt Nha Trang nên cư dân rất đa dạng và phức tạp. Mỗi khi về trú tạm ở nhà O Hến, tôi như lạc vào một thế giới của những người được Victor Hugo mô tả trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ”. Tôi nhận ra láng giềng của tôi là các cô gái bán hương sắc về đêm ở các góc phố đèn mờ và nhiều đứa trẻ bán hàng rong trong sân ga hoặc ngoài bờ biển. Rất lạ lẫm đối với tôi là họ tôn trọng việc riêng tư của nhau, chung sống hiền hòa cạnh nhà thờ.

O Hến rất ít nói và có trí nhớ minh mẫn. Việc bán chịu trà ngoài chợ và lối xóm trong hẽm đều ghi trong óc.  Không những thế, O học thuộc lòng Kinh thánh dù không biết chữ. Tôi nhận ra thêm một điều thú vị, đức tin còn quan trọng hơn học vấn để con người có được một cuộc sống an lành hạnh phúc.

Thật vậy, đức tin đã giúp O Hến quên đi nỗi buồn, mất mát lớn nhất trong đời. O Hến kể, thật ra vợ chồng O có một người con trai đã bị du kích bắn chết vì nhầm tên của một ông xã trưởng trong thời chiến tranh ở một huyện nào đó của tỉnh Lâm Đồng.  Sau biến cố đau buồn đó, vợ chồng O Hến quyết định chuyển về sống ở Nha Trang.

O Hến xa quê từ lúc còn nhỏ.  Dường như O chưa một lần về thăm quê hương.  Có lẽ cảm xúc không có nơi chốn để quay về đã ngăn cản bước chân người lưu lạc.  O cho biết, hồi nhỏ, cha mẹ mất sớm,  anh em của O phải sống nhờ nhà của một ông chú.  Khi triều đình Huế có chủ trương di dân gọi là “Hoàng triều cương thổ”, O đã đi theo đoàn người mở đất vào Đà Lạt để mưu sinh.  Vợ chồng O Hến lấy nhau trong hoàn cảnh bơ vơ với sự chứng giám của linh mục.  Từ đó, cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ đã bắt đầu trong hào quang tỏa sáng của Đức Chúa Trời. 

Khi hòa bình lập lại, O Hến cũng đã mở lòng rộng lượng trong đối xử với con cháu trở về từ hai phía.  O đã đưa số vàng dành dụm được cả cuộc đời tần tảo để cho đứa cháu trai là lính Sài Gòn về quê mua một mảnh vườn có nhà làm nơi thờ tự tổ tiên.  O cũng ôn tồn hàn huyên, lo ăn uống và cho chút tiền để đứa cháu là bộ đội về quê.  Số tiền còn lại, O gửi cho Cha xứ để lo tang lễ khi về Trời. 

O Hến đã cho tôi nhận ra một khuôn mẫu cuộc sống. Khi viết những dòng này, tôi tin, nếu có một thiên đường cho những người sống có đức hạnh, O Hến ắt sẽ là cư dân của thế giới ấy.