Friday, August 23, 2013

Uổng quá tài Việt!

Bạn tôi, Hùng, sang Mỹ học về quản trị công nghệ năm 1994. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ về nước năm 1997, anh trở về trường đại học nơi mình ra đi tìm cách để ứng dụng những kiến thức và kỹ năng đã học. Tìm mãi cũng không chọn nơi làm việc cho phù hợp, anh đành phải chấp nhận làm việc tại Trung tâm tư liệu Đại học Đà Nẵng. Sau gần mười năm lăn lộn với lĩnh vực khoa học hoàn toàn mới lạ, anh đã góp phần biến Trung tâm này thành một nơi cho cả ngành thư viện Việt Nam đến tham quan học tập về quản lý thông tin thư viện. Tuy nhiên, do cơ chế đề bạt cán bộ của nhà nước, bản thân anh cũng phải hợp thức hóa vị trí của mình bằng cách học thêm một bằng thạc sỹ thư viện để nhận chức giám đốc trung tâm. Sự nghiệp đang vững vàng thì anh bị bệnh tim và qua đời một cách đột ngột ở tuổi 50.

Minh sang Mỹ học thạc sỹ về kinh tế phát triển ở Khoa Kinh tế phát triển, Đại học Vanderbilt. Anh học rất giỏi các ngành khoa học liên quan đến tính toán như xác suất thống kê, toán cao cấp, toán kinh tế… Vì thế anh trở thành người phụ đạo cho rất nhiều sinh viên đến từ Châu Phi, Indonesia, Philippines, Malaysia… và được tôn kính như giáo sư.

Giáo sư dạy môn kinh tế lượng thấy anh quá xuất sắc đã cho phép anh làm trợ giảng và trả thù lao tương xứng cho anh. Khi anh tốt nghiệp, vị giáo sư này còn đề nghị cấp học bổng để anh ở lại trường học tiếp lên bậc tiến sĩ. Nghĩ rằng đất nước đang hồi sinh, về đúng lúc sẽ đóng góp nhiều hơn, anh quay lại Việt Nam. Hơn 15 năm qua, tôi vẫn chưa thấy tên anh xuất hiện trên các báo đọc mỗi buổi sáng hàng ngày. Thế nhưng, tôi vẫn mong sao anh có thể đóng góp sức mình cho đất nước dù ở bất cứ vị trí nào đi nữa. Vì thế, tôi vẫn chờ mong.

Hùng và Minh chỉ là hai ví dụ điển hình trong số ít những người tôi quen biết. Rất nhiều những gương sáng học tập của người Việt của chúng ta khắp năm châu được nêu trên các báo hàng ngày. Nhân tài nước Việt không thiếu, nhưng chúng ta thiếu vắng các điều kiện kinh tế xã hội để họ thi thố tài năng.

Vì thế, đừng hỏi vì sao nền kinh tế của chúng ta vẫn còn trì trệ, nền khoa học kỹ thuật của chúng ta vẫn chưa có lối ra. Con cháu chúng ta vẫn tiếp tục đổ mồ hôi gia công hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp của chúng ta vẫn đào bới tài nguyên đem bán thô ra thị trường các nước.

Hàng ngàn sinh viên trong nước, tốt nghiệp ra trường vẫn rất khó kiếm được việc làm. Hàng trăm sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài về muốn có thu nhập tương xứng với đầu tư của gia đình đành phải tìm cách làm cho thuê cho các công ty, tổ chức nước ngoài. Uổng quá tài Việt!

Con cái chúng ta tội nghiệp quá!

Hàng ngàn sinh viên trong nước ra trường khó kiếm được việc làm. Hàng trăm sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài về không tìm được việc làm có thu nhập tương xứng với đầu tư của gia đình. Trước hiện tượng đó, nhiều người lên tiếng, “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nghĩa là, “Lỗi tại các em trước!” Tuy vậy, xét trên khía cạnh xã hội, các em không có lỗi gì, từ quan sát và trải nghiệm dưới đây.

Nước Nhật trước khi đầu hàng quân Đồng Minh năm 1945, dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng đã phát triển công nghiệp rất vững chắc. Nước Nhật sau thế chiến đã phục hồi nhanh chóng và trở thành đại cường quốc về công nghiệp. Ngày nay, nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng, không chỉ có ý chí quyết tâm làm giàu, người Nhật sau khi thua trận vẫn còn tri thức nền tảng và kỹ năng quản trị làm vốn để biến đổi đất nước từ đổ nát thành quốc gia tiên tiến hàng đầu của thế giới trong nhiều thập kỷ qua.

Đài Loan thời trước 1945 là thuộc địa của Nhật. Việc đưa người Đài Loan sang Nhật làm trong các công xưởng rất phổ biến. Nhờ vậy, sau khi Đài Loan được trao trả độc lập và trở thành một lãnh thổ được sự bảo hộ của đồng minh, người Đài Loan đã có cơ hội nhận được nguồn tài chính dồi dào từ chương trình tái thiết sau Chiến tranh Thế giới thứ II (kế hoạch Marshall của Mỹ) và kế thừa tri thức nền tảng từ thời thuộc địa để xây dựng nền sản xuất công nghiệp tiên tiến như ngày nay. Rất nhiều ông chủ Đài Loan có thể bắt đầu khởi nghiệp lập xưởng sản xuất từ kinh nghiệm học hỏi của họ ở Nhật Bản.

Hàn Quốc sau chiến tranh Triều Tiên trở thành đồng minh thân cận của Mỹ. Các ông chủ nhỏ của nước này bắt đầu khởi nghiệp từ làm thuê cho người Mỹ. Qua vài thập kỷ, một số công ty như thế trở thành các tập đoàn công nghiệp lớn và có quy mô quốc tế. Giới trẻ Hàn Quốc ngày nay, không chỉ có cơ hội tìm việc ở trong nước mà còn tham gia quản lý, kinh doanh cùng với các tập đoàn này trên thế giới.

Kinh tế phát triển, việc tạo điều kiện giao thương giữa Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan cũng như với các quốc gia Âu Châu đã giúp cho giới trẻ các nước này tiếp thu trực tiếp nền giáo dục tiên tiến. Lớp trẻ Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc sau khi tốt nghiệp ra trường hoặc du học về nước họ đã có ngay môi trường để ứng dụng kiến thức nền tảng vào thực tế kinh doanh, sản xuất ở xứ mình. Chẳng hạn, ở Khu công nghiệp Maoli, một kỹ sư hóa Đài Loan sau khi tốt nghiệp ở Mỹ về đã đứng ra chủ trì xây dựng một xưởng hóa chất cho cha mình. Nhiều bạn trẻ Hàn Quốc, Đài Loan ngày nay, sau khi tốt nghiệp hoặc du học ở Mỹ, châu Âu về đã có môi trường kinh doanh để sử dụng các kỹ năng Marketing, Tài chính quốc tế, kể cả khả năng ngoại ngữ để lên các chương trình tiếp thị hàng hóa hay đầu tư của gia đình hay cho ca1cn công ty ra khắp thế giới, sang tận Nam Phi và Châu Mỹ La Tinh.

Còn con cái chúng ta thì sao? Chúng ta bước ra khỏi chiến tranh từ 1975, nhưng đến 1985 mới có thể bắt đầu mở cửa ra thế giới bên ngoài. Đến tận năm 2000 chúng ta mới chính thức bắt đầu có các doanh nghiệp cổ phần. Năm 2006 chúng ta mới có doanh nghiệp niêm yết. Rõ ràng, sau khi tốt nghiệp, con cái chúng ta chưa có môi trường kinh doanh để tham gia làm chủ mà chỉ mới có cơ hội làm thuê. Chúng ra có bao nhiêu doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để các em có thế tham gia như các nước Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan…? Việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước hiện nay vẫn rất ì ạch, và quy hoạch cán bộ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn còn nặng về cơ chế, chính sách… khiến cho giới trẻ càng khó kiếm cơ hội để tham gia vào hoạt động quản lý doanh nghiệp. Hiện nay, đã bắt đầu có một số bạn trẻ 8x sau khi du học trở về có cơ hội làm việc trong môi trường doanh nghiệp tư nhân, tham gia quản lý cho chính gia đình của mình. Nhưng nhìn chung, đại đa số doanh nghiệp tư nhân của chúng ta vẫn còn hạn chế về quy mô và tầm vóc. Trước hoàn cảnh đó, các em sau khi tốt nghiệp trong nước cũng như nước ngoài về chỉ có một lựa chọn khá phổ biến, đi làm thuê cho các tổ chức kinh tế, tài chính hay các công ty có yếu tố nước ngoài. Đứng trước tình trạng kinh tế trì trệ khiến cho doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn, doanh nghiệp tư nhân thua lỗ, phá sản rất nhiều, đổ lỗi cho con cháu chúng ta thật chưa khách quan, nếu không nói là chưa đúng?

Luân chuyển cán bộ dưới góc nhìn quản trị

Từ thời xa xưa, các triều đại vua chúa Trung Hoa hay Việt Nam đều đã thực hiện việc luân chuyển quan lại từ nơi nay sang nơi khác. Gần đây, trong hệ thống công quyền ở nước ta cũng như các nước cũng đã thực thi sự việc này. Rõ ràng nhất là ở các cơ quan ngoại giao. Chẳng hạn, cứ ba năm chúng ta lại chứng kiến việc thay đổi một viên chức ngoại giao cấp tổng lãnh sự hay đại sứ một nước. Sự việc lập đi lập lại nhiều lần nhưng ít người đặt câu hỏi tại sao. Gần đây, khi đi vào thực tế quản trị doanh nghiệp tôi mới có dịp trải nghiệm những lý lẽ đằng sau việc luân chuyển nhân sự đó.

Thoạt đầu, tôi có ý nghĩ việc luân chuyển nhân lực nhằm tránh tiêu cực trong quản lý. Chẳng hạn, một kế toán trưởng ở chi nhánh một cơ quan có thể tạo điều kiện cho nhân viên thu ngân giữ lại một lượng tiền mặt, sau đó đem cho vay hay mua bán lòng vòng, trước khi chuyển về công ty mẹ. Sự việc này chỉ xãy ra khi cả hai có quan hệ đã phát triển đến mức có thể thông đồng để mưu cầu lợi ích riêng của nhóm. Một quản lý công ty cũng có thể tuyển vào đơn vị mình bà con họ hàng để tạo chân rết trong các phi vụ làm ăn bất chính…

Tuy vậy, qua thời gian, tôi dần dần nhận thấy việc luân chuyển nhân lực còn ẩn chứa một giá trị cao đẹp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho tổ chức.

Trước hết, nói về nhân viên cấp dưới, việc luân chuyển nhân lực là cách để khơi nguồn sáng tạo, giúp họ tránh được tính lười biếng, ù lỳ do công việc đơn điệu mỗi ngày cùng một người sếp qua nhiều năm. Vì thế, nếu luân chuyển cán bộ quản lý theo chu kỳ, tính thích ứng của nhân viên cấp dưới sẽ trở nên linh hoạt và năng động hơn. Mỗi sếp mỗi vẻ, mỗi cá tính khác nhaunvà như thế cách điều hành tổ chức, ứng xử sẽ khác nhau. Nhân viên cấp dưới phải có năng lực đáp ứng sự thay đổi nếu không khó có thể tồn tại trong môi trường làm việc mới. Phương pháp này được các cơ quan công quyền, nhất là cơ quan ngoại giao áp dụng phổ biến nhằm tránh cho nhân viên cấp dưới làm viêc máy móc, quan liêu. Trên thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nơi có nhiều các cơ quan nước ngoài, rất nhiều người phải thay đổi công việc do không thích ứng khi có sự thay đổi quản lý mới.

Luân chuyển là cách có thể đào tạo ra một lớp quản lý toàn năng. Một kỹ sư trẻ khi tốt nghiệp ra trường, anh ta thường phải làm công tác chuyên môn. Tuy nhiên, để trở thành một nhà quản lý, anh ta phải trải qua nhiều công việc khác nhau khả dĩ có thể đủ tri thức và kinh nghiệm xử lý các tình huống đa dạng trong quản trị điều hành tổ chức. Cách làm này các doanh nghiệp Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc… áp dụng khá rộng rãi. Theo quan sát của tôi, đối với ngành xây dựng, thông thường các kỹ sư được bố trí công việc sao cho họ có thể kinh qua các công việc trong chu trình thi công một công trình từ khi đào móng đến khi hoàn thiện. “Chiếc vòng Nhật Bản” nhằm ám chỉ cách đào tạo quản lý thực tiễn của nước này. Các nhà quản lý sẽ lần lược được luân chuyển qua các lãnh vực rất khác nhau từ kỹ thuật công nghệ cho đến tài chính kế toán, nhân sự, bán hàng…cho đến khi hoàn thành một vòng tròn các mặt trong quản trị doanh nghiệp. Đây cũng chính là lý do giải thích vì sao, bạn học của tôi, một người có bằng MBA ở Mỹ khi trở về làm việc ở Nhật Bản cũng phải cúi đầu lắng nghe các vị quản lý lão thành trong hãng của mình.




Sunday, July 28, 2013

Tìm ra việc ưu tiên

Ngoài ra, Thiện cho rằng việc kinh doanh ngày nay không hề đơn giản để doanh nhân chúng ta tự ra quyết định một mình và thực hiện mọi chuyện thành công.  Trong hoàn cảnh sự liên đới công việc ­­và các bên liên quan rất phức tạp, làm sao tìm ra thứ tự ưu tiên và để mọi người đều đồng thuận với giải pháp ấy là yếu tố rất quan trọng và hơn hết có thể tránh được rủi ro cho doanh nhân, doanh nghiệp.  Anh còn gợi ý tổ chức cho doanh nghiệp các khóa huấn luyện để quản lý và nhân viên biết cách làm việc theo nhóm, không ỷ lại hoặc dựa dẫm vào nhau khi ra quyết định chọn được các giải pháp ưu tiên trong giải quyết khó khăn của doanh nghiệp.
Miệng nói tay làm, Thiện rút ra một tập giấy nhỏ có dán keo màu vàng gọi là sticker, giới thiệu cách anh và đồng nghiệp thường áp dụng ở công ty. Anh cho biết, khi có các vấn đề cần giải quyết, các quản lý cấp cao của công ty anh ngồi họp lại với nhau. Tổng giám đốc chủ trì cuộc họp chủ động hỏi các giám đốc chức năng nêu ra vấn đề, sau đó mỗi người bỏ phiếu để chọn ra vấn đề quan trọng và khẩn cấp để giải quyết trước.  Cách bỏ phiếu rất nhanh chóng và đơn giản, mỗi quản lý viết tên vấn đề nào thuộc loại khẩn và quan trọng rồi dán lên bảng. Tổng giám đốc đích thân gom và kiểm lại.  Nếu thấy vấn đề chưa được đại đa số đồng thuận, việc bỏ phiếu được tiếp tục cho đến khi đạt sự đồng thuận cao nhất.
Anh nói thêm, nhờ phương pháp này, các quản lý trong công ty cảm thấy gần gũi và gắn bó với nhau cho dù khi vấn đề của mình nêu ra chưa được đánh giá là tối khẩn và rất quan trọng.  Bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp được nhận biết rất rõ từ các vị trí chủ chốt. Tinh thần đoàn kết trong quản trị doanh nghiệp được cải thiện và những cán bộ có thành tích cao được công nhận một cách dân chủ, công khai.  Phương pháp này đã thấm sâu trong việc ra quyết định của tôi không chỉ ở tầm công ty, ở bộ phận do tôi quản lý mà cả trong sinh hoạt gia đình, Thiện kết luận.

Sunday, July 21, 2013

Thứ tự ưu tiên



Vừa rồi tôi được tham gia một lớp học về quản lý.  Giảng viên vừa vào lớp đã đặt lên bàn một cái chai thủy tinh rỗng. Ông soạn ra một túi nylon đựng các viên cuội tròn. Một vài người được ông gọi lên đưa các viên cuội vào chai. Khi chai đã đầy cuội, ông hỏi học viên, “Chúng ta có thể bỏ thêm gì nữa vào chai không? Thấy học viên ngơ ngác chưa kịp trả lời, ông lấy thêm trong túi ra một lọ cát.  Ông vừa rót vừa lắc cho những hạt cát len lõi chèn vào khoảng trống những viên cuội.  Một lát sau, khi cát đã đầy, ông lại nêu câu hỏi, chúng ta còn rót thêm gì nữa? Cả lớp lần này đồng thanh la to, “Nước!”.  Một học viên nhanh nhẩu lấy chai nước uống của mình xin phép được đổ nước vào chai.  
“Chúng ta học được điều gì từ việc làm này?”, giảng viên cầm cái chai đầy cuội, cát và nuớc đưa lên và hỏi cả lớp.  Nhiều câu trả lời vẫn chưa làm ông thỏa mãn, giảng viên ôn tồn kết luận, “Đa số các ý kiến của các anh chị đều tập trung làm sao cho công việc được giải quyết nhanh nhất, ngắn nhất, nhưng thực ra để đạt được điều này cần phải biết xếp thứ tự ưu tiên các công việc trước khi giải quyết chúng. Chẳng hạn, nếu chúng ta được giao đưa các vật liệu vừa rồi vào chai thủy tinh, nếu đổ nước vào chai trước, chúng sẽ tràn ra đầy bàn khi đưa cát hay cuội vào sau đó. Nếu ta đưa cát vào trước, sẽ rất khó, hoặc gần như không thể để đưa tiếp các viên cuội tròn xinh xắn kia vào chai được.  Từ ví dụ này ông dẫn giải, trong một doanh nghiệp, thậm chí ở phạm vi xã hội, luôn luôn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết.  Nếu có một “nhạc trưởng” hay một tập thể các nhà quản lý giỏi, biết sử dụng trí tuệ tập thể, cùng thảo luận và thống nhất xếp thứ tự ưu tiên từng việc để giải quyết, tổ chức sẽ vượt qua khó khăn, phát triển ổn định.  Nhiều doanh nghiệp khi đối mặt nhiều khó khăn, do chọn sai vấn đề để ưu tiên giải quyết có thể sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, không có lối thoát hoặc thậm chí gây đổ vỡ.
Theo ông, một trong những vấn đề nóng hổi của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là làm gì để tồn tại qua cơn khủng hoảng.  Một số doanh nghiệp mạnh dạn tạm ngừng một số hoạt động đầu tư dài hạn để tập trung nguồn lực vào các phân khúc thị trường hẹp, đưa ra thị trường các sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng để có dòng tiền tốt, hiệu suất sinh lợi cao.  Một số ngân hàng thay vì tập trung cho vay, họ chú trọng cung cấp nhiều hơn các dịch vụ tài chính để giảm rủi ro.  
Ông cũng dí dỏm giải thích thành công của Andy Muray tại giải Wimbledon vừa qua. Với chiến thắng này, nước Anh đã kết thúc 77 năm dài chờ đợi với chiến thắng của tay vợt nước chủ nhà.  Theo ông, nếu quan sát các giải liên tiếp trước đó, chúng ta sẽ thấy Andy đã không xuất hiện liên tiếp ở nhiều cuộc tranh tài.  Rõ ràng, Andy đã đặt mục tiêu vô địch Wimbledon vào thứ tự ưu tiên cao nhất, tập trung vào  một giải đấu quan trọng cho sự nghiệp của anh và của cả nước Anh.

Wednesday, July 17, 2013

Vinh danh "Ông Mối"


Hồi nước nhà mới mở cửa, tôi có may mắn tham gia hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế ở một tỉnh thuộc miền Trung. Làm việc ở một công ty xuất khẩu, hàng tháng chúng tôi tiếp cả chục đoàn thương nhân đến từ Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… hỏi mua sản phẩm. Tuy vậy, các hợp đồng xuất khẩu đa phần ký và thực hiện thông qua các công ty thương mại có văn phòng đặt ở thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải bán trực tiếp cho nhà sản xuất.  

Là các kỹ sư mới chập chễnh bước sang thương trường, hồi đó chúng tôi luôn thắc mắc, không hiểu sao các nhà máy công nghiệp thủy tinh, chế tạo khuôn đúc, chất độn silicat không đến mua trực tiếp sản phẩm của chúng tôi. Do không thể biết được các công ty thương mại đến từ thành phố HCM mua sản phẩm của chúng tôi rồi bán lại với mức giá nào, chúng tôi đoán già đoán non và ao ước được “mua tận gốc, bán tận ngọn”, nghĩa là bán đến tới người tiêu dùng cuối cùng để có giá cạnh tranh nhất. 

Nhiều năm sau, khi tham gia hoạt động kinh doanh ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi dần dần hiểu rằng nhà nhập khẩu mua hàng thông qua các công ty thương mại ở TP. HCM sẽ có giá tốt và tránh rủi ro vì bị phụ thuộc vào nhà cung cấp đơn lẻ như chúng tôi. Giả định có một nhà nhập khẩu mua hàng may mặc từ Miền Nam, nếu chọn được một nhà phân phối ở thành phố HCM, ông ta có cơ hội tìm mua hàng hóa với mức giá cạnh tranh nhất. Sở dĩ như thế vì nhà phân phối này sẽ liên hệ hầu hết các tỉnh thành phía Nam nơi có nhà máy may mặc xuất khẩu và sẽ có nhiều thông tin để đàm phán và tìm ra giá cạnh tranh nhất. Tất nhiên, nhà nhập khẩu muốn mua tận gốc anh ta cũng có thể thực hiện ước muốn của mình, nhưng sẽ có thể chịu rủi ro khi nhà xuất khẩu hàng may gặp sự cố về sản xuất hay một tai họa nào đó.

Một lần khác chúng tôi được tham gia đề tài khoa học của một Viện nghiên cứu ở Hà Nội. Mục tiêu của đề tài là tìm ra mức độ quan trọng của các khâu phân phối lúa gạo xuất khẩu từ các cánh đồng sản xuất ở Đồng bằng Sông Cửu Long đến thị trường xuất khẩu. Sau nhiều tháng trời làm việc, chúng tôi rất ngạc nhiên khi rút ra kết luận rằng vai trò quan trọng nhất trong khâu xuất khẩu gạo nằm trong tay các thương lái.

Dần dần thái độ của chúng tôi đã thay đổi khi làm việc với thương lái và những người đóng vai trò trung gian trong thương mại và dịch vụ. Tuy vậy, thật không công bằng khi trong xã hội ta vẫn còn nhiều người xem nhẹ vai trò của tầng lớp trung gian này và gán cho những từ không mấy thiện cảm như “cò”, “mánh mum”, “môi giới” hay “chạy mánh.” 

Nghĩ lại mà thương cho nhiều bà chị ở quê tôi, hôì thời bao cấp đã phải họp viết kiểm điểm vì hành vi mua gom cây trái ở vườn của các nhà  láng giềng trong làng mang ra chợ bán. “Con bò có một cục u. Người đi buôn bán là ngu như bò.” Các chị đã phải chép cả ngàn lần câu thơ bút tre này vì tham gia mua bán dưới vai trò thương lái.


Saturday, July 06, 2013

Thương mại không chỉ có cạnh tranh

Gia đình tôi rủ nhau lên nghỉ mát ở Đà Lạt.  Mỗi ngày, đến giờ ăn, chúng tôi lại kéo nhau ra Chợ Đà Lạt để ăn trưa. Có lẽ món ăn ngon và chế biến sạch sẽ nên thực khách rất đông.  Thấy chúng tôi tần ngần chưa tìm được chỗ ngồi, một chị bán nước giải khát đon đả chào mời, “Gia đình anh chị cứ ngồi ở đây, ăn món gì kêu rồi em bưng sang cho.”  Có cảm tình với cô bán hàng tốt bụng, chúng tôi không quên gọi thêm mấy ly giải khát.
Ngày hôm sau chúng tôi chọn một quán ăn khác và may mắn kiếm được chỗ ngồi. Dù quán không đông khách nhưng chỉ một mình chủ quán phục vụ nên cũng phải ngồi đợi món ăn. Chủ quán bên cạnh do vắng khách nên chuyển sang phụ rửa bát, lau bàn và chuyền thức ăn cho khách. Tôi nửa đùa, nửa thật hỏi, “Sao không về bán quán nhà mình mà sang làm giúp cho người ta?”  Chị mỉm cười hồn nhiên, “Hôm nay quán nó bận, ngày mai quán tui đông nó lại sang giúp.”
Hành xử của các cô tiểu thương Đà Lạt làm tôi thán phục quá chừng. Thay vì cạnh tranh, giành giật họ biết phối hợp tạo điều kiện cho nhau mua bán kiếm tiền.  Nguyên tắc thương mại này rất nhiều chủ doanh nghiệp chúng ta bỏ quên vì mãi lo cạnh tranh giành giật khách hàng và mở rộng thị phần.  Câu chuyện cá basa ở đồng bằng Sông Cửu Long làm một ví dụ điển hình.
Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho việc nuôi cá da trơn ở đồng bằng Sông Cửu Long, mặt hàng cá basa trở thành thủy sản độc tôn của Việt Nam trên khắp thị trường các châu lục.  Tuy vậy, thay vì phối hợp, phân công lẫn nhau trong các khâu nuôi trồng, chế biến, và xuất khẩu, các chủ doanh nghiệp chúng ta có xu hướng đầu tư khép kín theo kiểu “Lọt sàng xuống nia” và cạnh tranh lẫn nhau trong việc đưa hàng đến cùng thị trường để tiêu thụ. Rốt cục, giá bán cá basa càng ngày càng giảm trong khi nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và các dịch vụ chế biến, đóng gói, vận chuyển tăng khiến cho ngành nuôi cá basa của chúng ta hiện nay gần như phá sản vì người nuôi lỗ nặng, hàng loạt hộ nuôi khốn đốn. Theo thông tin trên trang chủ của Bộ NN&PTNT, ngày 29-6-2013, giá cá tra loại 1 chỉ còn khoảng 18.500 - 19.000 đồng/kg, người nuôi lỗ 3.000 - 3.500 đồng/kg; dù giá cá giảm mạnh nhưng người nuôi vẫn khó bán bởi các nhà máy hạn chế thu mua. Hơn nữa, dù bán lỗ nhưng các nhà máy vẫn kỳ kèo từ 1,5 - 2 tháng mới thanh toán tiền.
Tại một hội thảo gần đây ở TP. HCM, khi được nghe doanh nghiệp Việt yêu cầu hỗ trợ để cho hàng thủy sản Việt Nam đi vào châu Âu thuận lợi hơn, một nhà ngoại  giao Bỉ đã ám chỉ tác hại của việc cạnh tranh quá mức giữa các doanh nghiệp chúng ta.  Ông nói, “Thay vì tận dụng thế độc quyền thương mại về mặt hàng cá basa, các bạn lại cạnh tranh lẫn nhau làm cho mặt hàng này rớt giá." Ông cho biết, trước đây quả Kiwi của New Zealand khi xuất khẩu sang các nước cũng bị tình trạng tương tự. Tuy nhiên sau đó các doanh nghiệp trong nước cùng ngồi lại với nhau để tìm ra giải pháp tránh phá giá và giành giật thị trường. Từ đó, việc trồng và xuất khẩu trái kiwi của nước này đi vào ổn định và phát triển.

Sunday, May 19, 2013

Bí quyết quản trị từ quan sát cây cỏ

Tình cờ bạn tôi đưa lên Facebook một bài thơ rất hay do chị sáng tác, kèm hình ảnh đỏ thắm, xòe ra năm cánh của bông gạo khiến tôi tò mò để ý đến loài cây này.  Hồi nhỏ ở quê, màu đỏ của hoa vông nem đã quyến rũ bọn trẻ chúng tôi. Tuy vậy, cũng như hoa gạo, dù thích hoa, chúng tôi cũng phải đứng nhìn hoặc chỉ nhặt hoa rơi vì chẳng bao giờ trèo hái được do thân cây mềm và đầy gai nhọn.  
Sự chú ý về hoa gạo có dịp trở lại khi tôi được tham quan vườn thực vật nổi tiếng của Singapore mới đây.  Với tổng giá trị đầu tư xấp xỉ một tỷ đô la Mỹ, chính phủ Singapore đã tạo ra một bộ sưu tập độc đáo với nhiều loài cây của các  miền châu lục và các đới khí hậu trên trái đất.  Từ địa y của miền băng giá, đến sa mạc châu Phi, Nam Mỹ…mùa nào thức ấy, khi tulip nở rộ ở Hà Lan, loài hoa này cũng rực rỡ khoe sắc thắm trong khu vườn.

Tôi hỏi người hướng dẫn, “Ở đây có loài cây, thân gỗ mềm, đầy gai, nở hoa vào mùa xuân, hoa màu đỏ thắm…?”  “Đó là loài cây mộc miên hay hồng miên.  Người Quảng Đông hay Đài Loan còn gọi là cây anh hùng và chọn loài hoa này làm biểu tượng cho quê hương”, nhà thực vật ôn tồn trả lời.  “Xin mời quý khách đi cùng tôi tham quan bộ sưu tập thực vật từ thiên nhiên ở khắp nơi trên thế giới gửi về. Hy vọng quý khách sẽ cùng tôi nhận ra nhiều loài cây tương tự mà quý vị quan tâm.” Nói xong, ông dẫn chúng tôi đến xem một bụi cây nhỏ, thân khẳng khiu, không có lá, chỉ nở hai bông hoa màu trắng.  Ông nói, “Cũng như loài cây quý vị vừa hỏi, cây này có đặc điểm  khi nở hoa thì rụng lá vì phải dành hết nguồn năng lượng cho hoa.” Lúc đó, một tiếng nói phát ra từ phía sau, “Đấy là bài học của sự tập trung”.  Tôi nhận ra đó là tiếng nói của ông Chủ tịch Liên đoàn Nhà thầu ASEAN.

Liên tưởng đến tình trạng doanh nghiệp nước ta, đa số phân tán hoạt động trên nhiều lĩnh vực trong khi nguồn lực hạn chế nên có ít doanh nghiệp vươn đến đỉnh cao phát triển của nghề nghiệp. Thiếu cơ chế quản trị và không tạo được môi trường khuyến khích nhân viên sử dụng hết năng lực cống 
hiến cho công việc ở công ty, nhiều doanh nghiệp sử dụng người tài một cách phí phạm.  Trả lương 
thấp, chế độ đãi ngộ chưa phù hợp… khiến họ thiếu tập trung cho công việc dẫn đến tình trạng sản phẩm, dịch vụ làm ra kém về chất lượng và thấp về năng suất, hiệu quả. Mặc khác, nhìn vào màu đỏ rực lửa của hoa gạo hoặc màu trắng tinh khôi của bụi cây trước mặt, tôi tự nhủ, cũng như các loài hoa kia, đằng sau những thành tích đạt được ắt phải là sự hy sinh to lớn của cá nhân mới biến kết quả thành một tác phẩm hoàn mĩ.

Ở một khu vực khác với nhiều cây bao-báp bụng rất to nhưng cành lá khẳng khiu, người hướng dẫn giảng giải, “Cây bao-báp này được đưa về đây từ hoang mạc Chilê, bụng cây to là để chứa nước duy trì sự sống trong thời gian khô hạn kéo dài ở vùng hoang mạc. Cũng như quý vị kinh doanh trên thương trường, cây cỏ trong thiên nhiên cũng có phương án dự phòng để vượt qua thời kỳ khó khăn của thời tiết. “Vậy bụng của ông Desmond Hill thì sống được bao  nhiêu ngày?” Cả nhóm chúng tôi cười vang thích thú.  

Chỉ vào một bụi cây khác, lá vàng lốm đốm như đã chết khô. Ông nói, “Loài cây này biến đổi màu lá 
như thể lá khô vàng úa để không gây sự chú ý tránh bị các loài thú ăn cỏ.”  Tôi liên tưởng đến câu 
chuyện của một doanh nhân trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh.  Cách đây hơn mười năm, một lần đến thăm anh, tôi phải đi qua cửa của một Công ty Xuất nhập khẩu lớn.  Càng ngạc nhiên hơn,  anh nhập ống thép không rỉ từ Hà Lan, nhưng lại nhập tấm của thép cùng loại từ Úc.  Tôi thắc mắc thì được anh trả lời, rằng doanh nghiệp anh nhỏ, vốn ít…phải lựa chọn cách này để không gây sự chú ý của hai hãng sản xuất thép khổng lồ nhòm ngó thị trường thép ở Việt Nam.  Tiếc thay, thiên nhiên thì khôn ngoan, nhưng nhiều doanh nghiệp mặc dù quá hấp dẫn về thị trường, sản phẩm… đã không biết cách che dấu như loài cây cỏ kia khiến cho nhiều chủ doanh nghiệp phải ngậm ngùi rủ áo ra đi nhường chổ cho những ông chủ mới.


Tuesday, April 30, 2013

Tìm tin như thể tìm chim trên trời


Như thường lệ, những ngày lễ là lúc tôi có dịp sử dụng khoảng thời gian quý giá để giải quyết một số công việc còn dang dỡ.  Số là năm nay Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam gặp khó khăn về kinh phí do ngành xây dựng bị ảnh hưởng của tình trạng bất động sản đóng băng.  Rất nhiều công ty trong ngành phải đóng cửa, khoản thu hội phí của Hiệp hội bị mất đi khá nhiều.  Tuy vậy, đến hẹn lại lên, Liên đoàn Nhà thầu ASEAN vẫn cứ họp thường niên và gửi thư mời Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam. Để khỏi phải thuê tư vấn, chúng tôi được vị Chủ tịch đáng kính tin tưởng, nhờ làm báo cáo để trình cho Liên đoàn.

Thức lâu mới biết đêm dài.  Ngày nay mọi người thường nói “Thiếu thông tin cứ Google là xong”.  Tuy nhiên, để có được thông tin mới, đáng tin cậy và được sắp xếp có hệ thống quả không dễ dàng chút nào.  Ngay cả khi chúng ta vào các trang mạng uy tín và được cung cấp miễn phí, như trang chủ của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á… nếu không kiên trì đọc hướng dẫn sử dụng, người tìm tin cũng sẽ gặp rối rắm như vào mê cung.  Một vấn đề nan giải nữa là số liệu ở những trang này thường có độ trễ khoảng một năm. Như thế, thông tin tra cứu gần như để phục vụ nghiên cứu, học thuật… còn việc sử dụng thông tin để ứng dụng trong kinh doanh gần như “bó tay”.
Nắm được yếu tố này, thông tin cập nhật được các công ty nước ngoài cung cấp dữ liệu kinh tế, thương mại đưa giá chào mời khá đắt.  Một vài trang mạng có tên thương mại rất hấp dẫn thường chào những báo cáo cập nhật không dưới giá 1000 đô la Mỹ.  Số liệu cung cấp phần lớn trích dẫn và được hệ thống hóa từ các nguồn khả tín nói trên, nhưng chỉ nhanh hơn một bước.  Tuy thế, trong thời đại thông tin, tốc độ là thượng đế, các hãng cung cấp dữ liệu thương mại nước ngoài này quả đã khai thác một tài nguyên thông tin béo bở mà chính các cơ quan, đặc biệt là các cơ quan công quyền trong nước đang sở hữu và phải có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp nói riêng và nhân dân trong nước nói chung sử dụng.

Nói riêng ởThành phố Hồ Chí Minh, công việc khai thác thông tin có sẵn trên các trang chủ của các cơ quan công quyền của Thành phố để làm nghiên cứu tiếp thị, lập kế hoạch kinh doanh cho doanh nghiệp hầu như là nhiệm vụ bất khả thi. Chẳng hạn, để tìm ra danh sách các dự án hạ tầng trọng điểm đã và đang triển khai để định hướng hoạt động cung ứng dịch vụ cho các công trình này, không thể tìm thấy một cách có hệ thống trên các trang chủ của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố. May lắm, trên trang chủ của Sở Kế hoạch Đầu tư có công bố danh sách dự án mời gọi đầu tư. Hầu như chính quyền Thành phố chưa hề giao cho một đơn vị làm đầu tàu để tập trung dữ liệu thương mại phục vụ phát triển kinh tế.

Nói rộng ra tầm quốc gia, các trang chủ của các Bộ cũng hầu như cũng mạnh ai nấy làm. Chẳng hạn, nếu cần số liệu về tỷ giá ngoại tệ trong một thời gian dài trong quá khứ, người dùng phải vào trang chủ của Bộ Tài Chính mở từng tệp tin một.  Trong khi đó, công cụ tìm tỷ giá trên trang chủ của Ngân hàng Nhà nước đã có nhưng lại không sử dụng được.  Tìm các văn bản pháp luật của Quốc hội ban hành và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật lại càng rối rắm, phức tạp hơn nữa.  Chưa kể đến việc các trang tiếng Việt và Tiếng Anh không được cập nhật một cách đồng thời. Đây là môt trở ngại vô cùng to lớn trong công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.  

Thiết nghĩ, để nâng cao uy tín về sự minh bạch, công tác tổ chức và cung ứng thông tin phải được Nhà nước quan tâm đúng mức vì đó là nền tảng đầu tiên. Ngoài ra, thông tin là tài nguyên nên việc tổ chức quản lý, khai thác một cách hiệu quả sẽ tạo động lực cho kinh tế phát triển.