Saturday, October 15, 2016

Vườn mít nhà tôi

Trang Facebook của bạn tôi đăng một câu chuyện về quả mít như thế này, “Thứ bảy tuần trước Thu Nga có nhận được một trái mít mà không biết ai đã tặng. Lòng thật vuiA nhưng cũng thật áy náy vì sợ người ta tặng nhầm nên không dám cắt ra ăn. Mùi hương thơm ngào ngạt không kiềm chế được nên sáng hôm sau đem ra xử. Mít múi thật to, giòn tan và ngọt lịm. Bóc múi ra cái thì để ngăn mát ăn tươi, cái thì để đông đá ăn dần, cái thì làm kem chuối dừa mít, còn xơ thì phơi héo để kho với cá bống thệ.
Hiện tại thì mít cũng hết, kem cũng không còn nhưng lòng vẫn áy náy không biết ai là người cho mít để cảm ơn một tiếng. Thôi thì nhờ bác Facebook cho Thu Nga đăng mấy dòng để cảm ơn ai đó đã có lòng thơm thảo (hi vọng là còn nhận được lần sau!?). Một lần nữa gia đình Nam Nga xin cảm ơn người đã cho mít nhé!”

Hiện tại thì mít cũng hết, kem cũng không còn nhưng lòng vẫn áy náy không biết ai là người cho mít để cảm ơn một tiếng. Thôi thì nhờ bác Facebook cho Thu Nga đăng mấy dòng để cảm ơn ai đó đã có lòng thơm thảo (hi vọng là còn nhận được lần sau!?). Một lần nữa gia đình Nam Nga xin cảm ơn người đã cho mít nhé!”

Mấy ngày sau, TN đã chia sẽ mẫu chuyện này vào trang Facebook của tôi vì đã tìm ra người biếu quả mít.

Hồi tháng 6, chúng tôi có dịp hội ngộ ở Huế nhân ngày giỗ của cha tôi. Nhìn cây mít trước nhà sai quả, chúng tôi bàn với nhau những món ăn dân dã từ quả mít. Mít non trộn tôm thịt xúc bánh tráng, canh mít non nấu với lá lốt, xơ mít phơi héo kho cá bống thệ, …

Câu chuyện các món ăn từ quả mít bỗng dưng đã làm không khí cuộc gặp mặt trở nên đầm ấm. Tôi quay sang chú Tư hỏi, “Em có thể tặng mỗi người một quả mít non khi ra về được không?” Tư bảo, những quả mít này đã hơi già, làm các món ăn từ mít non không còn phù hợp, hẹn dịp khác vậy.

Nhân nói về quả mít, ở trong vườn nhà, tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, chúng tôi đã lớn lên với nhiều câu chuyện về nó.

Ngõ vào nhà tôi khá dài, hai bên đường, Cha tôi đã trồng cây mít với nhiều giống khác nhau. Chúng không chỉ có hai loại mít, mít ướt và mít ráo. Mít ướt khi chín, múi mít trở nên mềm, khi ăn phải dùng đũa để gắp hoặc phải dùng tay bàn tay để bóc ăn. Mít ráo, khi chín khô ráo, có thể ăn từng múi, từng sợi xơ cái, hoặc ăn luôn cả lớp đệm sát vỏ (gọi là đợn), xơ mít có thể phơi héo để kho với cá. Không chỉ có hai loại mít kể trên, chúng tôi còn đặt tên cho từng cây mít tùy theo đặc điểm của quả mít khi chín. Chẳng hạn, cây mít đầu tiên từ ngõ vào phía bên phải được đặt tên là mít đài. Quả mít không lớn, tròn, da căng mịn khi già, giống như đáy của cái om đất dùng để rang muối hay kho cá. Cây mít tiếp theo trồng ở bên phải gọi là mít dừa vì múi mít khi chín dòn như cơm dừa. Do đặc điểm của múi mít khi chín ăn rất ngon, mặc dầu ra quả ít, nó đã không bị đốn hạ khi Cha tôi mở rộng ngõ cho xe máy cày vào ra. Hậu quả là nó đứng trơ trọi khi toàn bộ ngõ vào nhà được mở rộng.

Cây mít trẻ nhất trong hàng quân danh dự là cây mít nghệ. Mặc dầu không sai quả như mẹ của nó ở vườn nhà ngoại, nhưng vì màu múi mít khi chín có màu vàng nghệ rất đẹp nên nó vẫn được giữ lại trong vườn. Nghe Mẹ tôi kể lại, hồi mới quen nhau, Cha tôi đã xin giống đem về ươm trồng.

Gần sát sân nhà, còn hai cây mít khác được đặt tên và đối xử với rất khác biệt. Cây mít ướt được yêu quý vì ra quả rất lớn. Quả ra không nhiều nhưng to và dài cỡ bằng thùng dầu hôi 20 lít. Vì thế, cha tôi đã dùng dây và nạng để chống đỡ. Mặc dù mít ướt, khi chín, chúng tôi có thể ăn luôn cả xơ. Mỗi lần mít chín, Mẹ tôi thường mang ra chợ bán vì được giá. Tuy vậy, chúng tôi vẫn có dịp thưởng thức món ngon vì cha tôi yêu cầu cắt ra một khoanh để vừa ăn vừa chọn ra những hột mít đầy đặn làm giống. Mẹ tôi cũng rất vui vì người mua có thể bị hấp dẫn khi nhìn thấy được bên trong của quả mít.

Còn một cây mít nữa, chúng tôi cho là ‘có ma’ vì không những thân nó mọc thẳng vươn cao nhất ở trong vườn mà còn có những đặc điểm khác lạ so với những cây mít khác. Năm nào, đến mùa xuân, nó cũng đều nở hoa, ra quả, nhưng sau đó đều rụng hết. Thấy nó vô tích sự, ai cũng khuyên Cha tôi đốn bỏ, nhưng ông nói, để sau này lấy gỗ làm cột nhà thay cho cột nhà rường làm nơi thờ tự tổ tiên.

Nói về những món ăn từ quả mít, còn hai món nữa gắn liền với tuổi thơ của chúng tôi, đó là hột mít và mít dái.

Do vườn nhà nhiều mít, bạn bè trong lớp từ tiểu học cho đến đại học của tôi đều không bao giờ quên món hột mít do Mẹ tôi đãi. Cho đến lần hội ngộ này, chúng tôi đứa nào cũng xấp xỉ 60 tuổi. Vậy mà khi họp lại đều nhắc kỷ niệm nhổ trộm sắn nấu chung với hột mít mỗi lần tụ tập ở nhà tôi.

Món mít dái có tên hơi tục tỉu vì hoa mít không được thụ phấn để thành trái trông giống hòn dái. Mít dái phải ăn với muối ớt vì có vị chát. Món này tôi thường phải theo mấy bà chị ra vườn để ăn vì phải qua chế biến.

Mùa hè năm 1971, Cha tôi bị tai nạn mất. Tất cả cây trái trong vườn đều được cột một dải vải trắng gọi là để tang. Tôi nhớ lại, chỉ có một vài cây trong vườn bị chết. Vườn mít vẫn xanh tươi. Nhưng một buổi sáng, chị tôi la lên thất thanh, “Ba ơi ra mà xem!” Tôi thức dậy nhìn ra vườn, cây mít vươn cao nhất vườn lá đổi màu vàng rụng đầy quanh gốc. Hồi đó, chị em tôi cho rằng cây mít muốn chết theo Cha tôi. Về sau này, khi tìm hiểu, tôi mới nhận ra, vườn mít đã bị dính thuốc khai quang của Mỹ rãi ở trên rừng Trường Sơn. Bây giờ, nhớ lại hồi còn nhỏ, chúng tôi đã ăn những cây trái trong vườn như mít dái,ổi, khế…một cách trực tiếp mà không biết trên vỏ của nó đôi khi còn đọng lại chất độc màu da cam.

Nghĩ đến đây, tôi bỗng rùng mình.

Monday, October 03, 2016

CÂY BÀNG NHÀ TÔI

Tôi chuyển về sống ở TP. HCM giữa năm 1997. Sau khi tìm được việc làm, mỗi cuối tuần tôi đều chạy xe máy kiếm nhà để mua nhằm đưa vợ con từ Nha Trang vào chung sống. Do số tiền dành dụm không lớn, địa điểm tìm kiếm căn nhà có thể mua cứ xa dần khu trung tâm. Cuối cùng, tôi mua được một căn nhà cấp 4 của một thương binh bán lại qua tay một môi giới ở Tân Sơn Nhì. Căn nhà vỏn vẹn 36 mét vuông, nhưng bên cạnh còn một khoảng đất trống sát đường hẽm. Nghĩ rằng khu đất nhỏ nhưng nằm ngay ngã ba, có 2 mặt tiền nên sẽ thông thoáng, và với sự tư vấn về giá cả của một trùm địa ốc ở cơ quan, việc mua bán được quyết định chỉ sau 1 lần đàm phán.

Tôi dọn về ở trong căn nhà mới mua từ đầu năm 1998. Phát hiện đầu tiên của tôi là căn nhà rất thấp, phần hông của nó quay về hướng Tây nên rất nóng. Hơn nữa, nền của nó thấp hơn mặt đường nên rất ẩm thấp. Vì vậy, tôi quyết định trồng cây để lấy bóng mát. 

Ngày chủ nhật nọ, tôi đi bộ ra đầu hẽm, ghé tiệm bán hoa, cây cảnh để tìm mua loại cây mình cần. Chủ tiệm là một người trạc tuổi trung niên, dáng người có vẻ thầy giáo hơn so với lớp thương nhân từng trải. Với sự tư vấn của chủ hiệu, chúng tôi đã trồng một loại dây leo lá lớn, hoa màu tím không rõ tên. Chẳng bao lâu, dây leo phủ kín căn nhà đến nỗi ở ngoài nhìn vào chỉ thấy một màu xanh của lá. Chúng tôi ở dưới tàn lá đó 5 năm cho đến khi có đủ điều kiện để xây nhà mới.

Nhà xây xong, quay mặt về hướng Tây Bắc nên đầy ánh nắng vào buổi chiều. Tôi lại chạy ra tiệm bán cây cảnh của anh Tuấn để mua cây cảnh trang trí cho có màu xanh. Chợt thấy cây bàng nhỏ đang khô héo bên cạnh tường của tiệm, tôi hỏi mua, nhưng vợ chủ tiệm lại biếu không cho tôi mang về.

Tôi trồng cây bàng sát tường rào phía ngoài đường với hy vọng khi cây lớn lên sẽ che bóng mát cho cả mặt tiền căn nhà. Quả vậy, cây bàng lớn nhanh như thổi, thấm thoát nó đã trở thành chiếc dù che mát nhà tôi. Tôi còn nhớ một người bạn thân từ Nha Trang ghé thăm vẫn nhắc đến bóng mát của cây bàng sau lần hai đứa ngồi nhâm nhi vào một buổi chiều cách đây nhiều năm.

Môt ngày nọ, bỗng dưng Công ty Điện Lực chôn một trụ điện trung thế sát bên cây bàng. Không ngờ đó là tai họa cho cây bàng. Về sau này, mỗi năm cứ đến mùa mưa, công ty lại đến tỉa cành, cắt ngọn. Kì diệu thay, cây bàng nghiêng thân mình dần ra phía đường để né tránh dây điện. Không mọc thẳng được, tàn lá của nó vươn theo chiều ngang, che kín một khoảng đường trước nhà. Những ngày nắng gắt, tán bàng trở thành nơi nghỉ mát của những người bán hàng rong, thu mua phế liệu.

Thấy không gian mát mẽ, thoáng đãng một gia đình ở sâu trong hẽm xin nhờ làm chỗ đặt xe bánh mì vào mỗi sáng. Từ dạo ấy, rạng sáng nào tôi cũng nghe tiếng chổi quét lá quanh nhà. Tôi thầm nghĩ, quanh nhà mình luôn sạch sẽ là nhờ công quét lá của Chị bán bánh mì và cũng là do cây bàng.

Cách đây 2 năm, tôi bị bệnh nên chăm tập thể dục ở nhà mỗi sáng. Đứng trong cửa sổ nhìn ra tàn lá xanh tươi của cây bàng, tôi đã học được nhiều điều từ nó.

Những chiếc lá bàng màu xanh non mơn mỡn vươn lên đón ánh mặt trời, trong khi những chiếc lá đã già trĩu nặng, chúng tạo thành một lớp màu đậm hơn bên dưới. Mỗi ngày, những chiếc lá già nua liên tục đổi màu vàng và rụng xuống. Tôi liên tưởng đến đời người, khi chúng ta già đi thì phải lắng đọng, trải đường làm nền tảng, nhường bước cho lớp trẻ vươn lên.

Khác với cây bàng ở miền Bắc như trong truyện “Nhặt lá bàng” của Thạch Lam, cây bàng nhà tôi đơm hoa kết trái và thay lá quanh năm. Tôi nhận thấy, dù đứng yên một chỗ, cây bàng vẫn giải quyết được chuyện sinh tồn. Cứ một lần bị cưa, chặt cành, cây bàng xơ xác chỉ vài hôm. Sau đó, từng cành non mọc lên xanh tươi, hớn hở đón ánh mặt trời. Lá mọc đến đâu, hoa nở đến đó. Nhờ vậy, cây bàng quyến rũ nhiều lũ chim đến bắt sâu, hút mật. Từng trái bàng có màu xanh  âm thầm lớn lên trong tàn lá. Chúng liên tục chuyển sang màu vàng khi chín. Lũ chim bay đến tìm quả chín để ăn. Những cơn gió mạnh cũng làm lá bàng rơi xuống mặt đường. Người phu quét rác gom lá bàng mang về bãi rác, hay những trận mưa xối xả mang mầm sống của giống bàng tái sinh ở đâu đó. Tạo hóa quả tuyệt vời!

Sáng hôm qua, lúc tờ mờ sáng, tôi đã nghe tiếng cười nói trước nhà. Một nhóm công nhân điện lực với xe chuyên dụng được lệnh đốn hạ cây bàng. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, cây bàng đã biến mất. Một lần nữa cây bàng lại dạy cho tôi một bài học cuộc sống. Rõ ràng, cây bàng không hề biết nó bị đốn hạ một ngày nào đó, nhưng ngày hôm qua khi còn tồn tại trên cõi đời nó vẫn đâm chồi, nỡ hoa, sản sinh những trái bàng tươi ngon hấp dẫn lũ chim, những chiếc lá ngả vàng thản nhiên rơi rụng sau khi làm hết trách nhiệm của mình.

Tôi tự hứa, từ nay cho đến cuối đời, tôi sẽ sống theo cách của cây bàng nhà tôi ngày hôm qua.

Thursday, August 18, 2016

TẤM LÒNG CỦA HIẾU

Hồi mới quen Linh, một chủ doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu ở Quy Nhơn, anh đã nằng nặc mời tôi huấn luyện cho nhân viên văn phòng của anh một khóa kỹ năng quản trị văn phòng. Lý do vì Linh và tôi gặp nhau ở một điểm, năng suất công việc của nhân viên văn phòng các công ty trong nước rất thấp. Trái lại, ở các tổ chức nước ngoài, công việc nhiều hơn nhưng ít nhân viên. Dù công việc khá nặng cho nhân viên nhưng do thuê ít người, chủ doanh nghiệp có thể nâng thêm mức thu nhập cho người lao động. Linh và tôi đều nhận thấy có một mối tương quan giữa hiệu quả công việc cho doanh nghiệp và sự hài lòng của nhân viên.

Linh kể, tôi sang dự triển lãm đồ gỗ ở Las Vegas, Mỹ 7 ngày. Hầu như, tôi chỉ làm việc với một nhân viên của đối tác nhưng công việc trôi chảy và gặp gỡ rất nhiều khách hàng tiềm năng. Cô nhân viên này một mình làm tới năm, sáu công việc khác nhau liên quan đến hội chợ: sắp xếp chuyến bay, đưa đón ở sân bay, sắp xếp khách sạn, lô trưng bày hàng triển lãm, giải thích cho khách tham quan, làm hồ sơ kế toán, thanh quyết toán chi phí cho toàn bộ chương trình hội chợ. Linh nói thêm, ở công ty tôi, phải cần khoảng 5 nhân viên để làm việc này.

Ao ước là thế, nhưng đến nay, sau nhiều năm, tình hình quản trị văn phòng của Linh vẫn chưa có nhiều thay đổi.

Cách đây 4 năm, lúc ở Myanmar mở cửa, tôi gặp ông Daniel Lim, chủ một công ty tư vấn thiết kế Singapore mở văn phòng ở TP HCM. Ông Lim mời chúng tôi cùng đi sang nước này để tìm hiểu mở rộng hoạt động kinh doanh ở thị trường mới. Kết quả của việc hợp tác này đã mang lại cho chúng tôi một hợp đồng ngoại đầu tiên thực hiện ở nước ngoài. Vậy mà, rất khác với nhiều người làm kinh doanh, ông Lim chưa bao giờ tỏ ý đòi hỏi sự trả công, trái lại, còn đứng ra hòa giải mỗi khi hai bên có bất đồng khi triển khai công việc.

Một lần, tôi và sếp của mình sang văn phòng của ông Lim dự họp. Tôi tình cờ gặp lại hình ảnh, ký ức anh Linh đã kể cho tôi về quản trị văn phòng nhiều năm trước.

Văn phòng của ông Lim có khoảng 60 nhân viên, đa số là kiến trúc sư và kỹ sư nhưng chỉ có một quản lý văn phòng. Nhân viên nữ này vừa làm công tác tiếp tân, vừa đánh máy, quản lý hồ sơ, làm bảng lương và các công việc liên quan đến hành chánh khác.

Ngày hôm qua, ông Lim đi cùng một người bạn đến thăm tôi, sau gần hai năm chúng tôi không gặp nhau. Ông mang theo một giỏ trái cây làm quà. Khi mở giỏ quà, người nhà tôi khen, “Ông này người nước ngoài mà cũng biết chọn mua trái cây tươi ngon”. Tôi chợt nhận ra, người chuẩn bị quà cho ông Lim cũng chính là cô nhân viên hành chính ấy. Từ đây, tôi mới hiểu có kỹ năng làm một lúc nhiều việc là quan trọng, nhưng để nhân viên có tâm huyết, động lực làm tốt công việc còn quan trọng hơn nhiều.

Có lẽ, thành công của ông Lim hay thất bại của Linh là ở điểm này.  

Sunday, June 12, 2016

Bác tôi

Mùa đông năm 1982, tôi nghỉ phép, lên Đơn Dương thăm người Bác ruột suốt nhiều năm chưa gặp mặt.

Hồi chiến tranh, việc đi lại giữa địa phương này với nơi khác rất khó khăn. Không chỉ vấn đề kinh tế, an toàn trong lúc đi lại là quan ngại rất lớn vì sợ mìn bẫy dọc đường.

Bác tôi vào Lâm Đồng lập nghiệp, thỉnh thoảng về quê lo việc mồ mả. Khi tôi lớn lên cũng vào thời điểm chiến tranh Việt Nam đến hồi quyết liệt qua những biến cố như Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, rồi Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước… nên gia đình phân tán, chưa một lần có điều kiện đoàn tụ.

Hồi ở Huế, mỗi năm đi chạp mộ một lần, tôi thường để ý ghi chép ở trên bia mộ nào cũng có tên của Bác tôi là người phụng lập. Ngay cả ngôi nhà rường làm nơi thờ tự, theo lời cha tôi, cũng do công sức của Bác dựng nên.

Vì thế, khi vào công tác ở Nha Trang, ao ước của tôi là được một lần gặp Bác. Tôi tưởng tượng cảnh Bác tôi sống trong một căn nhà lớn kiểu Pháp, xung quanh một khu vườn rộng… Thế nhưng, khi ô tô dừng lại ở chợ Đơn Dương, người ta cho biết Bác tôi vào trong rừng cất nhà sống cách đó vài cây số.

Theo chuyến xe ngựa, tôi tìm đến xã Phú Thuận rồi men theo đường ray xe lửa thời Pháp bỏ hoang để tìm đến nhà Bác.

Ngôi nhà tranh thấp dựng ở ven đồi thông, phía dưới chân đồi có khe nước chảy, một mảnh ruộng trồng lúa và khoai môn chạy dọc theo dòng suối màu nước vàng đục do mang nặng đất phù sa. Phía sau đồi, dưới những gốc thông, là những luống dứa được trồng vừa lấy quả, vừa giữ đất khỏi bị xói mòn.

Sống vài ngày trong thung lũng hoang vắng, tôi giúp Bác làm vườn, mỗi chiều xách chiếc cần câu đi dọc bờ suối kiếm vài con cá trê làm thức ăn. Tuy vậy, Bác còn làm thịt thỏ, gà đãi tôi nên so với bữa ăn ở bếp tập thể tại Nha Trang, thật là sung sướng hơn nhiều.

Hàng ngày, khoảng 4 giờ chiều, thung lũng bị bao phủ bởi một màn sương mờ khiến bóng tối đến rất nhanh. Hầu như bữa cơm chiều nào cũng diễn ra dưới ánh đèn dầu rồi mọi người lên giường rất sớm. Khoảng 3 giờ sáng, tôi thấy Bác đốt đèn đọc Kinh Thánh cho đến tận sáng.

Sáng chủ nhật, Bác vác chiếc xe đạp lên vai ra tận quốc lộ để đạp xe về Đơn Dương. Tôi thức dậy nhìn ra thung lũng, màn sương vẫn còn dày đặc. Tôi ngạc nhiên vì không hề thấy Bác rủ tôi đi lễ nhà thờ. Sáng chủ nhật lần sau, tôi chủ động xin Bác đi theo. Bác đồng ý, nhưng tôi đành phải theo xe ngựa vì đường lên thị trấn rất dốc. Khi tôi vào nhà thờ, mọi người đã ngồi chật kín. Khác với nhà thờ Công giáo, nhà thờ Tin Lành thường nhỏ, chứa được vài chục giáo dân. Tôi thấy Bác đứng trên bục giảng, yêu cầu mọi người mở Kinh Thánh nghe Bác giải thích. Cuối buổi lễ, toàn bộ mọi người đồng thanh hát một bài thánh ca. Tôi vẫn còn nhớ như in đến tận ngày hôm nay bài hát, “Xin Chúa hãy kéo tôi lại gần”. Sở dĩ tôi có ấn tượng sâu sắc đến như vậy là do một nữ giáo dân, có lẽ là người gốc Quảng Ngãi, mỗi khi đến điệp khúc kéo tôi lại gần, giọng của chị the thé, khiến tôi không chịu được.

Mấy ngày sau, tôi cố gần gủi Bác để tìm hiểu nguyên nhân Bác trở thành mục sư bất dắc dĩ. Thì ra, từ khi Bác về Đơn Dương làm công việc thu tiền thuê nhà hàng tháng cho người anh em trong họ, Bác nhận làm giúp việc cho một mục sư người Mỹ và được ông này dẫn dắt trở thành một tín đồ Tin Lành. Sau ngày Giải phóng, xét thấy ngôi nhà mình đang ở không phải là chủ sở hữu, Bác đã tự mình giao nộp cho nhà nước rồi sau đó dựng nhà trong thung lũng để sống lại thời thơ ấu ở nông thôn ngoài Huế. Việc Bác trở thành người giảng giải ý nghĩa của những câu chuyện trong Thánh Kinh cũng bộc phát có thể vì tuổi tác và sự kính trọng mọi người dành cho Bác.

Một buổi sáng trước khi rời Đơn Dương tôi đã dậy sớm ngồi bên cạnh Bác. Bác gấp cuốn Kinh Thánh lại, chậm rãi nói với tôi, “Năm nay con lên đây còn gặp Bác, năm sau, nếu có lên thăm chưa chắc đã gặp Bác.”

Tôi về lại Nha Trang tiếp tục công việc, một buổi chiều mùa đông, tôi nhận một mẫu giấy điện tín, vỏn vẹn mấy chữ, “Bác mất rồi”. Lúc đó, đúng vào ngày lễ Giáng Sinh năm sau. Nhiều năm rồi, tôi vẫn luôn tự hỏi, làm sao Bác tôi lại có một dự cảm về ngày ra đi của mình như thế.

Friday, February 05, 2016

O Hến

Từ thuở ấu thơ đến khi tốt nghiệp phổ thông trung học, tôi chẳng bao giờ nghe cha mẹ nhắc đến tên O Hến.  Mùa Thu năm 1977, khi vào Đà Nẵng cùng Dũng - người em họ, chuẩn bị một chuyến hành trình thăm cô bác ở Đà Lạt-Lâm Đồng, tôi mới biết O Hến hiện đang sống ở Nha Trang. 

Hồi đó, muốn đến Lâm Đồng phải đi qua tuyến đường Phan Rang - Đà Lạt. Từ Đà Nẵng đi xe lửa đến Nha Trang cũng mất gần hai ngày và phải dừng ở trạm Nha Trang hoặc Phan Rang để mua vé ô tô đi tiếp Đà Lạt.  Tôi và Dũng đã đột ngột “đến thăm” nhà O Hến và chúng tôi chỉ cần khai báo mình là con cháu ở Huế - Đà Nẵng lên thăm cô bác ở Đà Lạt là chúng tôi có thể ngủ qua đêm ở nhà O Hến. 

Bốn năm sau, tốt nghiệp đại học, tôi đã một lần nữa đến nhà O Hến xin tá túc.  Lần này tôi ở lâu dài vì được phân công về công tác ở Sở Giao thông Vận tải tỉnh Phú Khánh. Lúc này Dượng Bảy, chồng O Hến đã qua đời, O Hến sống với một người con nuôi và vẫn ngày hai lần đi về chợ Xóm Mới bán trà Bảo Lộc và lá vối như xưa. 

Làm công tác khảo sát thiết kế giao thông, tôi theo đội đi khắp tỉnh.  Nhưng mỗi khi về Nha Trang làm hồ sơ, tôi đều trú ở nhà O Hến.  Tôi nhận ra O rất ngoan đạo. Tờ mờ sáng, lúc Nhà thờ Núi đổ chuông, O Hến thức dậy đi lễ.  Hằng tuần, trưa Chủ Nhật, O Hến đều nghỉ bán về nhà sớm để đi lễ chiều.  Lúc này O Hến đã già lắm, nên Lành - con gái nuôi O Hến- phải dìu O lên dốc nhà thờ Núi để làm lễ.  Lành cũng là một thành viên trong ca đoàn của nhà thờ nên đưa đón cũng thuận lợi. 

Nói về Lành, O Hến kể rằng, một buổi sáng mùa đông, lúc lễ xong về nhà, O Hến phát hiện một hài nhi quấn trong khăn tắm để dưới một bậc cấp nhà thờ.  O Hến nhặt đứa bé lên, đi ngược lại vào nhà thờ gặp Đức Cha để trình báo.  Nghe xong sự việc, Đức Cha nói ”Đây là quà của Chúa Giêsu ban cho con đấy.”  O Hến sửng sốt đứng lặng người một lát.  Đức Cha chợt hiểu O Hến còn phải xin ý kiến người chồng mặc dù hai vợ chồng đã lớn tuổi và không có con cái.  Đức Cha cho người gọi Dượng Bảy lên gặp Cha rồi làm phép cho Lành làm con nuôi kể từ ngày đó.

Nhà O Hến nằm dưới chân Núi Một, bên cạnh con hẽm cùng tên, nối Ngã Sáu với chợ Xóm Mới. Địa điểm này gần Ga đường sắt Nha Trang nên cư dân rất đa dạng và phức tạp. Mỗi khi về trú tạm ở nhà O Hến, tôi như lạc vào một thế giới của những người được Victor Hugo mô tả trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ”. Tôi nhận ra láng giềng của tôi là các cô gái bán hương sắc về đêm ở các góc phố đèn mờ và nhiều đứa trẻ bán hàng rong trong sân ga hoặc ngoài bờ biển. Rất lạ lẫm đối với tôi là họ tôn trọng việc riêng tư của nhau, chung sống hiền hòa cạnh nhà thờ.

O Hến rất ít nói và có trí nhớ minh mẫn. Việc bán chịu trà ngoài chợ và lối xóm trong hẽm đều ghi trong óc.  Không những thế, O học thuộc lòng Kinh thánh dù không biết chữ. Tôi nhận ra thêm một điều thú vị, đức tin còn quan trọng hơn học vấn để con người có được một cuộc sống an lành hạnh phúc.

Thật vậy, đức tin đã giúp O Hến quên đi nỗi buồn, mất mát lớn nhất trong đời. O Hến kể, thật ra vợ chồng O có một người con trai đã bị du kích bắn chết vì nhầm tên của một ông xã trưởng trong thời chiến tranh ở một huyện nào đó của tỉnh Lâm Đồng.  Sau biến cố đau buồn đó, vợ chồng O Hến quyết định chuyển về sống ở Nha Trang.

O Hến xa quê từ lúc còn nhỏ.  Dường như O chưa một lần về thăm quê hương.  Có lẽ cảm xúc không có nơi chốn để quay về đã ngăn cản bước chân người lưu lạc.  O cho biết, hồi nhỏ, cha mẹ mất sớm,  anh em của O phải sống nhờ nhà của một ông chú.  Khi triều đình Huế có chủ trương di dân gọi là “Hoàng triều cương thổ”, O đã đi theo đoàn người mở đất vào Đà Lạt để mưu sinh.  Vợ chồng O Hến lấy nhau trong hoàn cảnh bơ vơ với sự chứng giám của linh mục.  Từ đó, cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ đã bắt đầu trong hào quang tỏa sáng của Đức Chúa Trời. 

Khi hòa bình lập lại, O Hến cũng đã mở lòng rộng lượng trong đối xử với con cháu trở về từ hai phía.  O đã đưa số vàng dành dụm được cả cuộc đời tần tảo để cho đứa cháu trai là lính Sài Gòn về quê mua một mảnh vườn có nhà làm nơi thờ tự tổ tiên.  O cũng ôn tồn hàn huyên, lo ăn uống và cho chút tiền để đứa cháu là bộ đội về quê.  Số tiền còn lại, O gửi cho Cha xứ để lo tang lễ khi về Trời. 

O Hến đã cho tôi nhận ra một khuôn mẫu cuộc sống. Khi viết những dòng này, tôi tin, nếu có một thiên đường cho những người sống có đức hạnh, O Hến ắt sẽ là cư dân của thế giới ấy. 

Friday, December 25, 2015

Vì sao phần lớn đội ngủ quản lý của công ty VN lại thiếu tính chủ động?


Nếu ta hỏi tính chủ động là tính dương (+), thì tính thụ động là tính âm (-).  Một tổ chức cũng như một cơ thể muốn khỏe mạnh, âm dương phải hài hòa.  Theo tôi, văn hóa đã góp phần làm tăng tính thụ động vì các Sếp VN thích tính tuân thủ, tính khiêm nhường, gọi dạ bảo vâng, lòng trung thành của đội ngủ quản lý.  

Trong các tổ chức VN, để tăng tính chủ động, sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh, nhiều giám đốc đã đưa ra sách lược tuyển dụng cán bộ trẻ, tiến hành lưu chuyển cán bộ, chỉ huy…để khuấy động tổ chức theo hướng tích cực.  Tuy nhiên, việc làm này chưa thu được kết quả như mong muốn.

Ở các tổ chức quốc tế, khi tuyển dụng, người lao động được tham gia làm bài kiểm tra tâm lý.  Kết quả kiểm tra sẽ cho biết cá thể dự tuyển thuộc nhóm “lý trí” hay “tình cảm” (chúng ta hay nói nôm na là “thuận tay trái” hay “thuận tay phải”).  Tay trái - tay phải; lý trí - tình cảm đều rất quan trọng và có vai trò cân bằng cuộc sống của con người và tổ chức.   Vì thế, để tăng tính chủ động, chúng ta cần phải tiến hành nhiều biện pháp, từ khâu tuyển dụng đào tạo đến thiết lập các quy chế hoạt động sao cho các ý kiến trái chiều được lắng nghe, tôn trọng.  Quy trình hoạt động tiến tới mục tiêu trao quyền nhiều hơn cho cấp dưới sau một quá trình theo dõi, dẫn dắt của cấp trên. 

Wednesday, May 06, 2015

Người Việt không hẵn xấu xí!


Sáng, trưa, chiều Chủ nhật (3/5/2015), liên lạc bằng điện thoại với anh Việt, bạn Hướng đạo sinh hồi nhỏ mãi không được, tôi lo lắng vô cùng.  Số là bạn tôi sẽ đóng vai trò như một chủ hôn tại lễ rước dâu của gia đình anh Tri, một đồng đội khác.  Mãi đến lúc tiệc tối, tôi mới hay vợ chồng anh bị tai nạn giao thông khi trên đường từ Mỹ Tho về Thành phố dự lễ cưới.

Thứ Hai, anh bạn liên lạc với tôi qua điện thoại. Anh bần thần kể, sớm hôm qua lúc đang đi trên đường Nguyễn Văn Linh (quận 7) anh va quẹt với một xe máy khác. Một người phụ nữ điều khiển xe máy, không đội mũ bảo hiểm, phía sau chở lặc lè hai giỏ cần xé trái cây, phía trước treo lũng lẵng hai bên 4 con vịt. Cô còn đèo thêm một đứa trẻ, không nón, không giày dép. Rất vội vã cô ta cố vượt lên qua mặt. Chiếc xe lắc, đảo và đâm sầm vào ngang hông xe máy của vợ chồng bạn tôi đang đi cùng chiều.  Đứa trẻ văng ra khỏi xe (rất may không hề hấn gì), người phụ nữ đầu đập xuống mặt đường, chiếc xe nằm vắt một nửa trên người, một vệt máu nhỏ chảy dài xuống cổ.  Bản thân bạn tôi cũng bị xây xát nhẹ khi xe bị lực đẩy đẩy ngang.
Người đi đường xúm lại, đỡ xe kéo người phụ nữ ra, cô vội vàng chồm lên tóm cổ mấy con vịt. Ai đó dựng xe lên nhưng có người lại ngăn, họ bảo phải chờ công an tới. Một lúc sau, 2 xe công an hụ còi chạy đến. Họ yêu cầu đưa người phụ nữ đi cấp cứu vì máu đầu chảy và cô kêu đau tức vùng bụng, vùng ngực. Đo đạc vết xe đổ, vẽ hiện trường … cộng thêm lời vào tiếng ra của người đi đường, có vẻ bạn tôi không có lỗi. Tuy nhiên, công an nói thêm, cả hai chủ phương tiện đều đi quá tốc độ cho phép. Và yêu cầu đưa cả hai phương tiện về đồn, giải phóng đường đi. Hơn 3 giờ chiều, bệnh viện điện về báo tin, người phụ nữ không có vấn đề gì trong não, ngực và bụng … Xuất viện, người phụ nữ được miễn phí điều trị vì có sổ hộ nghèo, bạn tôi chỉ phải đóng một chút đỉnh phí lặt vặt. Trở về đồn công an gần 5 giờ chiều, sau khi được công an giải thích, người phụ nữ xin lỗi và công an giải quyết cho tất cả ra về, giao trả phương tiện.
Lo ngại người phụ nữ còn yếu và nhất là đứa bé cứ bám lấy vợ chồng bạn tôi vì được cho ăn ngon, uống nước ngọt, thay áo quần mới, mang dép mới. Bạn tôi theo người phụ nữ này về nhà, hỗ trợ tiền 2 giỏ trái cây, mua lại 2 con vịt tặng gia đình và thêm 500.000 đồng “tiền bồi dưỡng sức khỏe”.
Gia đình người phụ nữ sống trong một căn nhà tối tăm, bề bộn, vá víu, nhưng ở vị trí bàn thờ Thánh Giá lại khá tươm tất. Có vẽ đây là một gia đình ngoan đạo. Người chồng bước vào nhà, phảng phất mùi rượu rẻ tiền. Hình như anh ta đã được biết khá tường tận mọi chuyện, nên hùng hổ quát mắng vợ. Vợ chồng bạn tôi ôn tồn xin lỗi, giải thích và cố gắng hướng sự việc đến việc thờ cúng, đến thánh đường, nói bóng gió về “yêu thương và tha thứ” và có những lời khen ngợi chân thành với gia đình. Người chồng trở nên mềm mỏng, lịch sự quay lại xin lỗi. Đúng là một gia đình ngoan đạo.
Bạn tôi mừng rỡ, và may mắn thay, bạn tôi có quen một mục sư ở gần đó. Anh liên lạc và được mục sư hẹn gặp tất cả mọi người. Biết tin, cả nhà người phụ nữ hân hoan nhưng lo ngại – họ rất muốn đến với mục sư, nhưng lại rất tủi thân cho hoàn cảnh của mình  - “Ai lại để mục sư phải bận tâm đến kẻ nghèo khó, hư hỏng như chúng tôi!”.
Dường như niềm hân hoan đã lấn lướt nỗi lo ngại, với sự thuyết phục chân tình của bạn tôi, mọi người đã đến gặp vị mục sư và cuối cùng, một kế họach giúp đỡ nhỏ được vạch ra, cùng với lời hứa cai rượu từ từ của người chồng và những giọt nước mắt không rõ vì lý do gì của người vợ.
Hơn 8 giờ đêm vợ chồng bạn tôi quay về nhà ở Mỹ Tho. Anh chợt  áy náy không nguôi khi biết mình đã làm lỡ kế họach rước dâu của gia đình bạn.  Anh báo tin sự việc khi trên người vẫn mặc một chiếc quần com-lê rách. 
Việt chợt nghĩ, sao mình đi giữa phố Sài Gòn suốt ngày lại không thấy ai chê cười. Anh kết luận, có lẽ cái may mắn cũng còn nhiều lắm ở đâu đó trong cuộc đời này. Còn tôi, tôi không nghĩ vậy, ứng xử của Việt toát lên nhân cách của con người hướng đạo trưởng thành.

Monday, February 09, 2015

Một vài khác biệt văn hóa gây cản trở hội nhập của người Việt Nam đương đại

Rất nhiều câu chuyện hàng ngày liên quan đến hành xử thiếu kỷ luật, thiếu tính nhân bản của người Việt Nam đương đại. Bản thân tôi sau nhiều năm được học tập và làm việc với các tổ chức quốc tế và trong nước, cũng có điều kiện trải nghiệm cũng như tiếp nhận một số nhận xét của chuyên gia nước ngoài về các khuyết điểm kể trên.
Trước hết, xin kể về tính thiếu kỷ luật về giờ giấc. Sau nhiều lần tiếp xúc để tìm hiểu về khả năng tham gia phối hợp trong việc thi công công trình mang tính đột phá về hạ tầng ở TP. Hồ Chí Minh giữa tập đoàn xây dựng quốc tế Shimizu Nhật Bản và đơn vị chúng tôi, một hôm, một quản lý phía đối tác thản nhiên bảo tôi, “Này ông! Tôi thấy ông không giống người Việt”.
Tưởng rằng ông ta nhận xét về phương diện nhân chủng học, tôi tuôn ra ngay một tràng giải thích về sự di cư của các giống người Indonesean trong quá khứ hàng ngàn năm qua.  Tôi tự hào nói, “Trên thế giới, sự di dân từ nơi này sang nơi khác đã từng được chứng minh qua các chứng cứ về khảo cổ học và nhân chủng học.  Nước Việt chúng tôi nằm trên ngã ba đường của các cuộc di dân đó nên chúng tôi có thể là người Nhật, người Hoa, người gốc Ấn, và thậm chí còn có thể là con cháu của Thành Cát Tư Hãn xứ Mông Cổ.
Từ tốn như bao người Nhật khác, vị chuyên gia bảo tôi, “Tôi nói ông không giống người Việt là ở điểm khác anh bạn ạ! Ý tôi là qua nhiều cuộc hẹn, tôi thấy ông lúc nào cũng đúng giờ, không giống như các cuộc làm việc của tôi với nhiều người Việt khác.” Đến đây, tôi thẹn đỏ mặt, không chỉ vì sự võ đoán của mình mà còn vì nhận xét cay đắng của vị chuyên gia Nhật dành cho người Việt chúng ta.
Kế đến, nói về tính nhân bản của người Việt. Có thể đây là một sự xúc phạm đến đồng chủng của mình.  Nhưng không bàn đến vấn đề này có thể là một tội lớn đối với tiền nhân và thế hệ kế tiếp.
Trước hết, xin nói về tiêu chuẩn thiết kế các công trình xây dựng dân dụng. Nếu bạn có dịp đi vào các công trình dân dụng xây trước 1975 còn sót lại, chẳng hạn, Dinh Thống Nhất ở TP. HCM,  bạn sẽ thấy dốc cầu thang khá thoải và các bậc cấp có chiều cao vừa phải khiến cho người đi bộ leo dốc có cảm giác nhẹ nhàng thoải mái.  Bên cạnh đó, các tòa nhà đều có lối đi hoặc các nhà vệ sinh dành cho người dành cho người tàn phế, già yếu.
Đi bất cứ đâu ở các nước như Singapore, Hàn Quốc, Mỹ… chúng ta đều thấy có các hạng mục xây dựng dành cho người già, người tàn phế ở các công trình dân dụng và các phương tiện công cộng mà thi thoảng mới gặp ở nước ta.  Chẳng hạn, mới đây, trong một dịp ghé vào trạm dừng ôtô Tâm Châu, Bảo Lộc, tôi ngạc nhiên và rất mừng cho ngành du lịch địa phương khi nhìn thấy bảng chỉ dẫn nhà vệ sinh dành cho người tàn phế.
Cơ quan Ngoại giao Mỹ ở Việt Nam trong nhiều năm trước đây cũng đã nêu vấn đề này có chương trình tài trợ để thiết kế phương tiện lên xuống xe buýt cho người tàn tật ở TP. HCM. Tuy vậy, có lẽ vì lý do ngân sách, hiện nay các xe buýt công cộng ở TP vẫn vắng bóng phương tiện này.
Nói đến tính nhân bản của người Việt, cũng không thể không nói đến văn hóa ẩm thực. Hầu như chúng ta có thể vô tư ăn nhậu bất cứ loài cầm thú nào. Thức ăn càng hiếm càng khoái khẩu và càng quyết tâm lùng kiếm để thưởng thức. Trên các tuyến đường du lịch ở nước ta, đi đâu cũng thấy các bảng quảng cáo đặc sản, “Cá suối, rau rừng”. Còn ở chợ đồng bằng, người tiêu dùng dường như không biết thực hư về trọng lượng cũng như chất lượng thực phẩm có giá như tôm, cua, thịt bò…đành chuyển dần sang sử dụng hàng ở siêu thị.  Hiện chưa có ý kiến của ngành y tế về thông tin tỷ lệ ung thư của người Việt rất cao, một phần vì dư lượng các chất tăng trọng, thuốc trừ sâu trong thực phẩm!
Đâu là giải pháp giúp giới trẻ Việt thay đổi?
Bước xuống sân bay quốc tế Bangkok, chúng ta luôn bắt gặp nụ cười và ánh mắt thân thiện từ nhân viên hải quan đến người đẩy xe phục vụ.  Ta còn thấy hình ảnh chùa tháp và các tượng Phật ở trong và cả lối ra vào sân bay.  Ở khu thương mại sầm uất của nội đô Bangkok, ta vẫn thấy ở các góc ngã tư, ngã ba đền thờ Phật, hình ảnh nhà vua, hoàng hậu xuất hiện trong các dịp lễ. Ở thủ đô Pnompenh, Cambodia, ở Yangon, Myanmar… chúng ta cũng bắt gặp những hình ảnh tương tự.  Nghe nói, thanh niên ở Thái Lan, người Khmer ở nước ta và ở Cambodia, người Lào… đều phải vào chùa học giáo lý và thực hành nghi thức tôn giáo một thời gian.  Phải chăng đây là gốc rễ cho tính thiện, và sự hiền từ thể hiện trong tính cách của người dân các nước láng giềng?

Sau nhiều năm công tác ở TP.HCM, chuyên gia kinh tế Heung Choi tiết lộ cho tôi một trong những bí quyết thành công của Hàn Quốc.  Anh nói, thật tình, nước tôi phải học tập Việt Nam về quyết tâm thống nhất đất nước mà đến nay người Hàn vẫn chưa làm được.  Thế nhưng trong cái rủi lại có cái may. Do lo sợ chiến tranh, chính phủ Hàn Quốc ban hành luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc hai năm đối với thanh niên. Ở trong quân ngũ, chúng tôi không những học về kỹ thuật quân sự mà còn được rèn luyện về thể chất, tính kỷ luật, tính tuân thủ...  Nhờ vậy, khi trở về cuộc sống đời thường các tố chất này hóa ra rất cần thiết để tạo nên một thế hệ trẻ Hàn Quốc mạnh về thể chất, nhạy bén trong đối phó các tình huống và đặc biệt biết tôn trọng giờ giấc và kỷ luật của tổ chức, yếu tố góp phần làm nên một quốc gia hưng thịnh trong hội nhập quốc tế ngày nay.

Sunday, September 07, 2014

Tồn tại nhờ sự hợp lý


Hồi còn sinh viên ở trường đại học, khi học triết học Marx, chúng tôi được giải thích về tôn giáo rất khác với những điều thường sinh hoạt trong gia đình.  Marx cho rằng, “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” và nó được dùng để giải thích việc đóng cửa các trường học do tôn giáo quản lý hoặc đập bỏ các miếu thờ ở nhiều nơi trong nước thời ấy.Tuy nhiên, quan sát trong cuộc sống đời thường, nhất là khi có một quãng thời gian sống chung với một người bà con ở cạnh nhà thờ Núi, thành phố Nha Trang, tôi nhận ra nhiều điều hay về sinh hoạt tôn giáo. 

Trước hết, chuyên cần đi lễ nhà thờ là cách rèn luyện sức khỏe.  Hàng ngày, vào khoảng 4 giờ rưỡi sáng, chuông nhà thờ ngân vang, cô tôi thức dậy đi bộ đến thánh đường làm lễ.  Bà đã thực hành lối sống như thế và luôn gửi trọn niềm tin của mình vào Thiên Chúa cho đến cuối đời vào tuổi 95.

Nhiều hoạt động cộng đồng trong tôn giáo giúp phát triển kỹ năng sống. Tôi gặp và làm quen một gia đình công giáo ở vùng quê Khánh Hòa. Gia đình anh sống trong một thung lũng khá biệt lập trong một vùng đồi núi Diên Khánh. Tuy vậy, sinh hoạt cộng đồng ở nhà thờ mỗi tuần làm cho gia đình anh không hề bị tách biệt với cộng đồng. Hơn nữa, vợ chồng anh rất quý những cuộc viếng thăm của khách phương xa và có thể ngồi tiếp chuyện hàng giờ với nhiều đề tài phong phú chưa hẵn sống ở phố thị mới có được.  Ở nước ta hiện nay, nhiều sinh hoạt thiện nguyện giúp người dân tìm được nhiều cơ hội đóng góp cho xã hội, cộng đồng mỗi khi xãy ra những hiểm họa như lụt, bão, hoặc tai nạn giao thông. Thông qua những chuyến đi xa, làm công tác từ thiện, các thành viên trong nhóm có dịp trò chuyện, học hỏi lẫn nhau, quả là một môi trường có ích cho sự phát triển kỹ năng sống trong cộng đồng.

Sinh hoạt tín ngưỡng góp phần phát triển giáo dục. Nhiều thế hệ người già ở nước ta có được phổ cập văn hóa nhờ vào tham gia sinh hoạt tôn giáo. Khá nhiều vĩ nhân thế giới có nhiều đóng góp lớn cho nhân loại một phần hưởng được giáo dục nền tảng từ tôn giáo.
Rõ ràng, khi một xã hội chưa phát triển cao đến một ngưỡng lý tưởng như Karl Marx mong ước, tôn giáo vẫn là nguồn vốn xã hội cần thiết cho loài người.

Tuesday, January 28, 2014

Tư duy Mỹ

Nhân chuyện bản dịch của anh Phạm Vũ Lửa Hạ được trang Triết học đường phố đăng nhưng không xin phép khiến anh em lời qua tiếng lại. Tôi xin kể một kỷ niệm của mình liên quan với tờ Tuổi Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1997, tôi được Tổng Giám đốc Lâm Hoàng Lộc nhận vào làm việc ở Văn phòng Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu ở thành phố Hồ Chí Minh.  Ông Lộc nói, “Làm cho mình lương không bằng ngân hàng nước ngoài, nhưng chúng ta hãy cùng nhau xây dựng ngân hàng này để sao cho người ta không nói rằng người Việt không biết làm ngân hàng, không biết kinh doanh tài chính.”

Quả thật, do trả lương không thể ra ngoài quy định của hệ thống lương ngân hàng, ông Lộc cũng không hề giao quá nhiều việccho tôi, trái lại ông khuyến khích tôi quan sát hệ thống, thăm các chi nhánh và thi thoảng dịch những bài báo trên các tạp chí nước ngoài để phân phối cho các cấp quản lý ngân hàng đọc.

Hồi đó, tuy nhà nước theo đuổi chính sách mở cửa, nhưng trên khía cạnh văn hóa, báo chí các cơ quan có trách nhiệm liên quan của nhà nước rất chú trọng các vấn đề nhạy cảm trong kinh tế, chính trị và văn hóa.  Các tạp chí như Kinh tế Viễn đông (Far Estern Economic Review); Nhà kinh tế (The Economist); Tuần tin tức (News Week)…thường được xem xét kỹ nội dung trước khi đưa ra phát hành cho công chúng.

Tôi còn nhớ, lúc đó là đỉnh cao của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Tôi đã dịch ra tiếng Việt một bài phân tích rất hay trên tờ Tuần tin tức, chỉ ra nguyên nhân khủng hoảng. Tác giả cho rằng, phấn khích trước dòng vốn rẻ, các doanh nhân châu Á đã tiến hành đầu tư một cách vội vã, kết hợp với lòng tham muốn làm giàu sao cho thật nhanh, nên bất chấp kỷ luật tài chính khiếnxảy ra đổ vỡ.  Các nhà lãnh đạo châu Á (điển hình là Thủ tướng Malaysia, Mohamed Mathir) không nên chỉ đổ tội cho các nhà đầu tư tài chính phương Tây mà cũng nên xem xét lại hệ thống quản trị tài chính ngân hàng của mình như câu nói của tiền nhân, “Đi nhanh hay vấp, tham thực cực thân.”

Sáng thứ Bảy, ra sạp báo đầu hẽm mua tờ Tuổi Trẻ, tôi hết sức ngạc nhiên, bản dịch của mình được đăng trong cột Câu chuyện thứ Bảy của tờ báo. Thú thiệt, tôi cũng lấy làm giận vì không thấy tên mình là dịch giả. Không biết lấy ai để giãi bày, tôi gọi cho Rich, một người bạn Mỹ đang dạy tiếng Anh cho trẻ em ở phố Tây Phạm Ngũ Lão. Chưa uống hết ly cà phê, Rich bảo tôi, “Đây là cơ hội cho anh đấy”.  Rồi Rich hướng dẫn tôi viết một là thư cho tòa soạn báo Tuổi Trẻ với lời lẻ khiêm tốn. Thay vì trách móc, dịch giả lại cảm ơn tờ báo đã sử dụng bản dịch của mình. Rich còn khuyên tôi dịch thêm bài báo khác để gửi nhờ đăng báo.

Quả như dự đoán của Rich, bài dịch thứ hai được tòa soạn nhậnvà cho đăng báo. Tôi còn may mắn được Phó Tổng Biên tập tờ báo, ông Huỳnh Sơn Phước đến tận ngân hàng để mời cộng tác. Nhiều năm sau đó, tôi thường xuyên nhận báo biếu hàng tuần vì được xem là cộng tác viên của tờ báo.

Thursday, January 09, 2014

Mô hình phát triển nước ngoài của Trung Quốc

Tiến sĩ Innocent Okpanum, một kiến trúc sư người gốc Châu Phi và là thành viên công ty tư vấn thiết kế nổi tiếng Ngonyama Okpanum đến tìm hiểu tình hình ngành xây dựng Việt Nam. Sau khi đi thăm một vài doanh nghiệp trong ngành, ông nêu câu hỏi cho chúng tôi, “Tại sao các ông không thi công xây dựng ở châu Phi?”

Ông cho biết có hàng triệu người Trung Quốc đang sống và làm việc ở Châu Phi, đa số khởi đầu bằng nghề xây dựng. Khi nhận hợp đồng thi công, các công ty Trung Quốc chuyển luôn toàn bộ kỹ sư, công nhân sang địa điểm xây dựng mới. Họ nói cùng ngôn ngữ, hiểu các kỹ năng của nhau, khi cần vật tư họ gọi điện thoại bằng tiếng mẹ đẻ, liên lạc với các nhà cung cấp ở Trung Quốc… Mô hình khép kín này khiến cho giá thành của các công ty Trung Quốc hết sức cạnh tranh đến nỗi không một công ty nào trên thế giới có thể sánh bằng.  Rút cục, các hợp đồng thi công rơi vào tay các công ty Trung Quốc.

Tốt nghiệp ngành kiến trúc La Mã nổi tiếng, tiến sĩ Innocent Okpanum cho biết ông cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng khai sáng thế giới của các nước phương Tây. Thông thường, các công ty đến từ Âu Mỹ khi kinh doanh ở châu lục khác thường tuyển lựa một số ít người hay công ty địa phương đào tạo về ngoại ngữ và kỹ năng quản trị để làm các vệ tinh cho họ.  Ngoài ra, ngày nay, tiền lương, đi lại đắt đỏ khiến các công ty Âu Mỹ không thể mang cả đại quân chinh phạt xứ người như các thế kỉ trước. Hậu quả là mô hình Trung Quốc đang rất hợp thời với dân số lớn, nền sản xuất quy mô công nghiệp, nếu không nói thêm có một chính phủ mạnh với ý chí quyết tâm phát triển cao, vươn lên dẫn đầu các nền kinh tế thế giới.

Một khía cạnh khác khiến cho mô hình Trung Quốc trở nên hết sức hiệu quả đó là mối quan hệ giữa người dạy và người học. Mô hình đào tạo phát triển cần nhiều thời gian và người học phải là người thật sự muốn học nếu không nói là khao khát học hỏi để đổi đời. Peter Drucker, nhà quản trị học nổi tiếng thế giới đã từng nói, đại ý thế này, khó có thể huấn luyện người yếu kém thành người xuất chúng mà chỉ có cơ may nâng những người khá thành người giỏi.  Nếu nguyên lý đó là đúng, đem áp dụng mô hình đào tạo phát triển châu Âu vào châu Phi và các nước kém phát triển ở các châu lục khác, liệu có bao nhiêu người có chỉ số thông minh cao, có thái độ ham học tiếp thu cái mới tham gia mô hình này.  Chúng ta càng thấy khá rõ nét khi nhìn lại lịch sử Việt Nam. Thực dân Pháp ra đi, để lại cho nước ta một nhóm người có số lượng rất nhỏ có danh xưng ông nghè, ông thông, phán sống khá giả vì hưởng mức thu nhập cao khiến cho Trần Kế Xương phải mỉa mai.
Phen này ông quyết làm thông phán,
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.

Cách đây hơn 15 năm, khi du học từ Mỹ trở về, mang đầy tâm thế đổi mới, trồng người của thế hệ thầy cô đi trước, tôi đã quyết tâm và may mắn trở thành giảng viên đại học nhiều năm. Thế nhưng, lửa nhiệt tình đã dần dần tắt ngấm vì phát hiện ra rằng kiến thức truyền đạt của mình không thấm được vào lớp người trẻ đương thời. Đa phần sinh viên ngày nay học để đối phó với yêu cầu xã hội như phải có tấm bằng đại học để kiếm việc, để an tâm trên con đường quan lộ cha mẹ dọn sẵn đường… và để sáng bằng với mọi nguời trong xã hội.  Hơn nữa, trách các em làm gì khi một lớp học với trên 50 thậm chí gần 100 sinh viên, thì không thể nào giáo viên có thể truyền đạt kiến thức đến sinh viên một cách hiệu quả.

Quả tình, mong  muốn trở thành những thầy cô giỏi, gương mẫu về đạo đức như trước đây là một thách thức lớn. Cô Tuyết Ba thời tiểu học với không những văn hay, toán giỏi mà còn dạy cho chúng tôi lòng tự trọng dân tộc khi ứng xử với lính Mỹ mỗi ngày ngoài đường phố. Thầy Lũy dạy luyện phát âm tiếng Anh giọng Mỹ bằng mô hình. Cô Hương dạy tân đại số, thầy Luật dạy toán cao cấp…thời trung học… và cả khi ở bậc đại học, chúng tôi cũng được thừa hưởng nền giáo dục căn bản từ các giảng viên gạo cội và là tinh túy của chế độ thực dân, đế quốc đến hai nền giáo dục của hai miền Nam Bắc.
Có phải tôi là lớp người già, không còn cơ hội để phát triển nên nuối tiếc ngày xưa. Thôi đành vậy, nhưng khi đã nói ra suy nghĩ của mình, tôi cũng đã vượt qua nỗi sợ hãi và phải nêu ra một số quan sát để các bạn suy nghĩ. Hoặc nên chăng, bỏ hết, dẹp hết các mô hình đào tạo, giáo dục tạm gọi là tiên tiến để đi theo mô hình Trung Quốc?